Vượt luân hồi vào Tịnh Độ

Thảo luận giáo lý và phương pháp hành trì pháp môn niệm Phật.

Điều hành viên: binh

Vượt luân hồi vào Tịnh Độ

Gửi bàigửi bởi battinh » Chủ nhật, 09/12/12 10:16 pm

Hình ảnh

VƯỢT LUÂN HỒI VÀO TỊNH ĐỘ
Thích Phổ Huân
Chùa Phổ Quang ấn tống - PL. 2548
California - USA. 2004

ĐÔI LỜI TRONG LẦN TÁI BẢN

Do nhân duyên tha thiết với pháp tu Tịnh Độ, chúng tôi đã không lượng sức mình nên viết đôi điều lý giải cũng như phóng tác một vài hình ảnh của người niệm Phật trong tác phẩm "Vượt Luân Hồi Vào Tịnh Độ". Dù rằng kiến giải Tịnh Độ của chúng tôi chỉ là hạng sơ cơ học Phật, nhưng vẫn thấy trong lòng phát khởi niềm vui, nói lên được những gì xưng tán, thọ ân chư Phật, chư Tổ. Có lẽ vì lòng tha thiết chân thành mến đạo, nên khiến được một ít người hoan hỷ đón nhận.

Đến hôm nay sách lưu hành được một năm và đã tái bản, lai được đạo hữu Tâm Kiến Chánh đọc vào các băng dĩa (audio cassette, disk MP3, việc này cũng nhờ sự giới thiệu của Đại đức Thích Nguyên Tạng chùa Quảng Đức – Australia) phổ biến đi khắp nơi.

Lần đầu sách được tái bản tại Việt Nam tác giả không hay biết; riêng lần tái bản thứ hai này được in tại Hoa Kỳ, do nhóm Phật tử chùa Phổ Quang, Tiểu Bang California phát tâm ấn tống, và có liên lạc với chúng tôi.

Lần tái bản này chúng tôi có chỉnh trang lại những khuyết điểm của sách, cũng như sửa một vài điểm cho phù hợp với tâm cảnh phổ quát hơn. Tuy nhiên nội dung nguyên bản ban đầu không thay đổi.

Nhân đây, lần nữa chúng con xin chân thành tri ân Hòa thượng Phương trượng chùa Viên Giác thượng Như hạ Điển, đã có đôi lời giới thiệu, để giá trị tác phẩm đích thực đúng theo tinh thần chánh pháp.

Và chúng con chắc chắn không thể nào quên được, kính thành tri ân thầy Bổn sư, thượng Bảo hạ Lạc vẫn là người lúc nào cũng đọc duyệt qua những tác phẩm chúng con.

Chúng tôi không quên biết ơn quý độc giả tri thức đã đọc qua và cho lời góp ý chân thành, để tác phẩm ngày càng hoàn chỉnh hơn.

Chúng tôi xin hồi hướng công đức đến quý Phật tử xa gần, góp phần ấn tống trong lần tái bản này. Sau cùng xin hồi hướng tất cả chúng sanh trong pháp giới đều trọn thành Phật đạo.

      Nam Mô A Di Đà Phật
      Sydney – Đa Bảo Tự ngày 20/06/2004
      Thích Phổ Huân
LỜI DẪN

Đường học Phật mênh mông nào ai tự hào quán triệt, nhưng khi ý thức Phật tại tâm mình, thì hiện pháp chẳng còn xa!

Nẻo về Như Lai tạng lại chẳng lạ, chẳng thường duy cũng từ tâm phát khởi.

Nhân duyên khởi viết tập sách này, không ngoài ý thức mong rõ thấy con đường, mong thấy Như Lai tánh.

Thật vậy, đã bấy lâu rong ruổi trong đời trải qua bao thăng trầm thô tế, mà vẫn hoài trôi nổi si mê – con đường đi qua nào phải xa chánh pháp, nhưng sao lòng vẫn trĩu nặng chất tình xa!

Tình của người trong sáu nẻo!

Trong sáu nẻo kia chỉ có một nẻo người, sao lại để tình người rơi vào khổ lụy!

Đó vì biển động của tâm, không chống chọi được pháp trần hữu lậu; nên biển động thành tình, tình vọng thức vô minh!

Niệm Phật chỉ là một trong muôn pháp, từ dòng sáng chân viên của chư Phật mà lưu xuất hóa thành. Và ngay đời này, pháp đó hiển lộ khởi sinh một cách nhiệm mầu, nhưng vẫn cụ thể rõ ràng, sinh động, năng dừng mọi vọng tưởng chúng sanh.

Người viết không biết tự nhân duyên bao giờ nay gặp được! Xin chân thành mến mộ kính ghi chia xẻ cùng tất cả bạn đường xa.

Thảng hoặc có chi khúc mắc trong văn ý, đó là do kiến thức của người viết hãy còn nông cạn, kính xin quý vị thiện tri thức độc giả rộng tình mách bảo cho. Nhân cũng xin tri ân đến quý tác giả, dịch giả mà người viết đã mạn phép trích ghi sao lục.

Cuối cùng, nếu được duyên lành công đức chi từ nơi tác phẩm này, nguyện xin hồi hướng đến tất cả chúng sanh trong pháp giới đều sanh về Tịnh Độ.

      Nam Mô A Di Đà Phật
      Pháp Bảo Tự năm 2003
      Tỳ kheo Thích Phổ Huân
Nam Mô A Di Đà Phật
Hình ảnh
Hình đại diện của thành viên
battinh
 
Bài viết: 3737
Ngày tham gia: Thứ 2, 14/11/11 10:58 pm
Đã cảm ơn: 51 lần
Đã được cảm ơn: 305 lần
Giới tính: Nam
Đến từ: Tứ Đại

Re: Vượt luân hồi vào Tịnh Độ

Gửi bàigửi bởi battinh » Thứ 2, 10/12/12 9:09 am

Chương I
QUAY CUỒNG TRONG SANH TỬ

    - KHÔNG GIAN, THỜI GIAN QUAY CUỒNG TRONG SANH TỬ.
    - TÌM KIẾM VÀ ĐỊNH ĐOẠT.
Ngày đó, một ngày xa xưa lắm, những người vô minh say ngủ như chúng ta, trải qua không biết bao nhiêu biên cõi thế giới. Mỗi lần đi vào một cõi, mỗi lần phải tranh đấu sống còn; nhưng nào đâu có chết mà phải tranh đấu, vì ta đã ở ngay trong biển sanh tử! Và mỗi giọt nước của biển là một cõi, nên sự sanh tử chỉ là bọt nước lăn tăn gợn lên gợn xuống; nhưng ta lại cho là thật, chắc vì nơi ấy quá khổ, quá vui!

Trong những chặng đường lặn hụp mang đủ dạng hình tâm thức, ta đã kinh qua bao lần sinh tử và cuối cùng một ngày đã đến với chúng ta!!

KHÔNG GIAN, THỜI GIAN QUAY CUỒNG TRONG SANH TỬ

... Có kiếp ta là vị vua anh minh hiền đức trị vì đất nước giàu mạnh. Chung quanh còn có những cận thần thông tuệ, trung tín thờ vua, giúp vua giải quyết mọi vấn đề trong, ngoài cung điện một cách trôi chảy. Hạnh phúc hơn, Hoàng hậu phu nhân vừa xinh đẹp nhân đức lại thông minh sáng suốt, là nguồn vui sáng lạn xóa tan nỗi bất bình phiền muộn một khi vua được phu nhân giải bày an ủi.

Hai vị chăn dân hiền đức như vậy, chắc chắn sanh ra quả vị ngọt ngào thơm mát. Thật đúng! Hoàng Thái tử người con cả, kế đến hai cô công chúa, ba vị như ba bông hoa rực rỡ của cung điện vàng.

Cuộc sống an bình thịnh vượng của triều đình lan tỏa khắp thôn làng dân giả, khiến nhà nhà hạnh phúc ái mộ những con người đức cao, giàu phúc đã ban rải cho dân chúng một đời sống an ninh hạnh phúc ấm no.

Rồi thời gian trôi qua, vị vua anh minh này già đi; tất cả những vẻ đẹp cùng thời với vua theo đó suy sụp. Ba đóa hoa đẹp của điện vàng cũng không còn như ngày đầu mới nở. Họ đã có gia đình, có con, đã cằn cỗi theo thời gian năm tháng.

Trước khi nhắm mắt, vua tuy hài lòng đã để lại mọi thứ cho vương triều đất nước, nhưng sự thương yêu say đắm vẫn không sao khỏi vấn vương. Thế là hai mắt nhắm đi, tưởng đâu rũ bỏ, nào ngờ thần thức nhà vua hãy còn mang theo bao nỗi tiếc thương!.

Do phước báu hãy còn đầy, thần thức lại tái sanh làm vua, nhưng vào quốc vương khác, bởi vì kiếp trước xa nữa, vua dệt nên say đắm ái nghiệp ở đất nước đó nhiều hơn, nên nghiệp lực khiến vua không trở về được nơi triều đình vừa bỏ xác.

Ðây là vấn đề nhân quả tinh tế, phức tạp khó thể nghĩ bàn, chúng ta vì chỉ hạn cuộc nhìn thấy một đời hiện báo nên có nghi ngờ thắc mắc. Tỉ dụ một người mắc nợ ít, họ sẽ không lo thanh toán trả trước, mà phải giải quyết món nợ nhiều hơn, dù nợ ít mới mượn hay đã mượn lâu.

Vậy chỉ là lần lượt thanh toán; nên khi sanh ở chỗ này chỗ kia khiến tìm cách gắn bó giao lưu, đó là cách giải quyết ân oán day dưa cũ mới.

Nơi tái sanh này cũng ngai vàng điện ngọc, khiến vua chẳng thấy xa lạ gì. Vua này thân cận với triều đình A, tiền kiếp vừa rồi, do tình thâm luyến ái vẫn còn đầy ở đó, và hai bên thường thâm giao qua lại.

Cứ thế thời gian trôi qua, kẻ say ngủ sắm vai vua cũng khá nhiều. Ðây do thiện nghiệp tạo ra trong quá khứ, nên hưởng quả lành mang được thân vua nhiều lần như vậy.

Cho đến một kiếp, trong cơn hấp hối, vì quá nặng tình, nặng của; thần hồn (thần thức) nhà vua ra đi mang đầy thương ái nhớ nhung, nhớ người tiếc của! Vua có thể không tham tiếc của cải ở một vài kiếp, nhưng trải nhiều kiếp làm vua, tâm thức càng dệt thêm niềm thương yêu sâu đậm. Và thế cho đến kiếp đây, vua chết đi không còn nhẹ nhàng êm ái nữa.

Cảnh tượng ra đi thật bi thương; vua ghì tay ôm hoàng hậu, hướng mắt về công chúa, cận thần, khiến họ không dằn được xúc động tạo nên âm thanh nức nở nghẹn ngào thảm thiết ...

Thần hồn nhà vua vừa thoát ra thể xác đã quay lại gào to: Không không, trẩm đâu có chết, trẩm còn đây mà! Nhưng cảnh tượng nào đâu thay đổi, họ càng gào khóc to hơn, và xác chết nhà vua phải rung chuyển theo sự lay động ghì kéo khóc than của người thân quyến...

Thân Trung Ấm người chết vì chứng kiến cảnh đau thương như vậy, càng tăng thêm bi lụy, đến nỗi không chịu nhìn lại xác chết kia là vật giả tạm, mà bây giờ thần thức đã thoát ra khỏi nó.

Cho đến khi kim quan nhà vua đặt vào lòng đất, Thân Trung Ấm vẫn chẳng tin mình chỉ là dòng ý thức sống mượn tạm thân ngũ ấm thô kệch này.

Sau khi bị nghiệp lực chi phối, không thể cưỡng lại và hãy còn ít phước báo, lần tái sanh này tuy không được làm vua, vẫn làm được thân quan lớn, quan thừa tướng trung tín của triều đình; triều đình mà kẻ say ngủ say đắm nhất trong quá khứ. Vị quan thần này lại phải đấu tranh bám vào chức vị, hầu được thời gian cơ hội ngắm người, nhìn vật mà quan thần đã sống trong tiền kiếp qua!

Thời gian lại tiếp tục trôi, vị thần già nua bấy giờ chuẩn bị ra đi, bỏ lại tất cả niềm thương tiếc. Trong niềm tiếc thương địa vị tài danh vật chất, lão thần có lần nhen nhúm phóng tâm ước ao mình sẽ được lên ngôi trị vì thiên hạ; nực cười thay, ước mơ đó đã thành tựu từ lâu và không những một lần trị vì thiên hạ, mà đã nhiều lần! Mĩa mai hơn, điện ngọc cung vàng nơi tiền thân làm vua của lão thần, vẫn hiện hữu đó, và nếu lão thần nhận ra điều này, thì sự kinh hồn hoảng sợ của việc tái sanh, sẽ làm lão chết đi không thốt nên lời!

Nghiệp thức say ngủ của kẻ lang thang trong giòng sanh tử, bây giờ tái sanh làm vị quan nhỏ, cai quản một thị trấn cách triều đình hơn 10 dặm. Giờ đây hiếm có cơ hội nhìn ngắm điện vàng, cung phi, mỹ nữ... Giấc mơ vị quan nhỏ chỉ làm sao, thu đạt được nhiều bạc tiền, lấy lòng triều đình hưởng ân hưởng phước vua ban.

Tái sanh làm quan như vậy nhiều kiếp, rồi có một kiếp vì quá say mê sắc dục, muốn thỏa dục tình, cưỡng ép thường dân, hiếp kẻ thế cô chẳng còn liêm sĩ. Hành động như thế ngày càng làm dân oán hận, cho đến lúc chính người vợ của y phải điều tra sự thật, vì tai tiếng và ghen tức. Biến cố, hậu quả của vị quan tham sắc, lạm quyền đưa đến đổ vỡ tan nát gia đình; để rồi chỉ còn sống trên tước vị bằng màu sắc hào nhoáng chết lạnh, hợp theo tâm hồn cô lạnh của y.

Chuyện lại không đơn giản như vậy, cùng lúc có người trình đến vương triều, tội trạng lạm quyền hà hiếp lương dân - cuối cùng y bị truất phế tước vị, thành kẻ lang thang vô định, rồi chết đi trong oán giận, sân hờn.

Kiếp này kẻ say ngủ sanh vào gia đình bần cùng nghèo đói, đó là quả báo nghiệp tội phung phí tiền của, cậy quyền ép uổng sát phạt người thế cô. Quả báo làm hắn đau khổ hơn, khi phải sống một nơi không xa nhà vị quan huyện giàu có; để chứng kiến cảnh giàu sang dư tiền lắm của đối lại cảnh khổ, thiếu ăn thiếu mặc mà hắn phải đương đầu. Tình cảnh như thế giết lần tinh thần thể chất của hắn, và rồi chết đi trong mê mờ ngu muội oán giận cuộc đời.

Lần này kẻ say ngủ sắm vai kiếp sống lang thang vất vưởng, làm kẻ ăn mày thường bị người xua đuổi hà hiếp mà chính hắn không hiểu vì sao bất hạnh vậy.

Làm kẻ ăn xin đói khổ, trải qua nhiều kiếp, kẻ say ngủ tự nhận được điều gì oái oăm của kiếp sống! Ðiều đó khiến cho tánh chất hung hăng thô lỗ tự giảm dần; rồi cảm thương cho mình bất hạnh; suy nghĩ vì sao phải đến nỗi này! Ðau xót cảm động thương hại chính mình đến xúc động tột cùng, rồi lâm bệnh chết đi trong cô đơn lạnh lẽo .

Dù thần hồn đã hối lỗi nhận hiểu số phận mình, nhưng nghiệp nhân quá khứ vô tư nào đâu thiên vị. Hắn tái sanh nhiều lần làm kẻ bất tài yếu đuối, sống thiếu thốn lo âu. Nhiều kiếp lại sanh làm thân nữ, phải trả quả báo, bị người hiếp đáp, làm nhục, nhưng không đau đớn bằng kiếp súc sanh, cầm thú bị người đánh đập giết ăn.

Trong kiếp súc sanh, hắn phải đau khổ qua cảnh phân chia lìa đám xa bầy, thường khi trốn lánh, mất ăn bỏ ngủ. Kiếp thú đầu tiên lãnh chịu là kiếp nai, thỏ, loài thú không chỉ làm mồi cho con người, còn là món ngon của thú dữ. Ðó là những hành nghiệp mà kẻ say ngủ tạo nhân khiếp đảm tổn hại đến người và vật. Nhưng cũng có kiếp mang thân thú dữ như: hỗ, báo, sư tử do vì tập khí quá hung hăng dữ tợn của hành nghiệp quá khứ.

Dù thế, song hành với nhân quả báo ứng, kiếp thú dữ như vậy vẫn phải sợ hãi trước đám thợ săn hung tợn, vui đùa với lằn tên mũi đạn xuyên qua máu thịt của bất cứ loài thú nào bị săn đuổi. Ðôi khi thú càng dữ, thợ săn chuyên nghệ càng thích trổ tài lùng bắt. Kẻ say ngủ tưởng rằng với sức mạnh chúa sơn lâm chẳng còn lo sợ, nhưng rồi cũng bị phân thây lột da, cho loài người thưởng thức. Cũng không phải chỉ có loài người làm hại, loài thú dữ vẫn phải đau khổ do thiên họa trời đất, lắm lúc đành phải mang thân đói khát chết đi.

Xuống lên sanh tử không một cõi nào mà kẻ say ngủ không trải qua; mỗi lần trải qua, lại không một đau khổ nào không nếm đủ. Những tưởng, tuyệt đối cõi người toàn sung sướng, nào ngờ lắm khi đau khổ đến tột cùng; do con người là chúng sanh có hiểu biết, có suy nghĩ, phân biệt nhận thức nên đau khổ càng gia tăng. Loài súc sanh ngây dại sống thiếu tiện nghi, nhưng vì không trí thông minh như người, nên không nhận thức, và vậy đau khổ chỉ là thô kệch từ thân xác mà phần tinh thần lại rất ít cảm nhận!

Kẻ say ngủ mãi bị quả báo thiện ác đáp đền tương xứng.

Ðến nay, thế giới văn minh khoa học, dù được tái sanh làm người, nhưng do nghiệp báo hãy còn nên phải làm việc nặng nhọc khổ thân, rồi quả báo hiện đến phải ra đi với nghề đã chọn (sanh nghề tử nghiệp). Nhiều kiếp có khi làm đến giám đốc, hoặc viên chức cao cấp trong chính phủ; chức vụ này nào có xa lạ gì với quan tước triều đình mà hắn đã từng thọ nhận trong quá khứ. Dù được làm Tổng Thống, hay Thủ Tướng lại có khác gì ngôi vua. Nhưng tổng thống, thủ tướng thời nay so ra, sao được sung sướng, uy quyền bằng lãnh chúa ngày xưa!

Do vô minh say đắm cùng tánh chất tham sân khiến hắn không dừng nghiệp ác. Cậy quyền lực địa vị cao, gian xảo đoạt lợi cho mình, thỏa mãn dục vọng hả hê. Cứ thế phải bị quả báo trở lại làm kẻ lang thang vô gia cư, trong một xã hội giàu có dư thừa vật chất.

Ðau khổ đọa đày vạn kiếp mới có một kiếp tĩnh ngộ, tái sanh làm con người mới. Nhưng không được bao lâu lại rơi vào biển tham đắm. Tham đắm nhỏ, dần dần biến thành như quả núi dìm hắn xuống tận địa ngục, rồi trở lên sanh vào loài thú, rồi bỏ kiếp thú, chịu quả báo tật quyền ăn xin cùng khổ ở cõi người, đến khi hết, lại vô minh tạo nên nhân ác khác...

Quả báo dội ngược vào thân đã là khổ, nhưng quả báo dày xéo tinh thần còn khủng khiếp hơn! Vì đương sự có giàu nghèo mặc kệ, một khi đối diện thì đau khổ tột cùng. Như là: đau khổ bất lực, vô phương bảo vệ người mình thương quý; vô phương thay thế nỗi đau khổ cho người mình thương!

Thực tế đó, là hình ảnh cha mẹ, chồng vợ con cái trong gia đình phải đối diện cảnh chia ly đột ngột không như ý muốn. Cảnh trạng có thể được xem đau khổ nhất khi mái ấm gia đình bắt đầu gầy dựng, thì phải chịu đựng biến cố người vợ xinh đẹp bất ngờ chết đi (bất đắc kỳ tử); chết đi đang lúc quá trẻ - hình ảnh ngược lại, đau thương cho người chồng gương mẫu chỉ sống được vài năm; và không biết bao nhiêu nước mắt cho những đứa con còn thơ dại lại từ biệt ra đi quá sớm - khủng khiếp hơn có khi cả gia đình ra đi một lượt để lại đương sự nỗi đau nghiến nát tinh thần.

Như vậy, như vậy đó! Toàn là khổ! Có được bao nhiêu vui!

Rồi một thoáng suy tư đau khổ kiếp người, kẻ say ngủ không còn ham muốn gì nữa trên cõi đời này! Vì bao cố gắng dành giựt cho bản thân mình cuối cùng chẳng hưởng được chi, so với công sức lao tâm lao lực từ bao nhiêu năm, và có lẽ từ bao nhiêu kiếp như vậy. Hắn thấm thiết nỗi đau chia ly cách biệt người thương, thì còn ý nghĩa gì mọi tiện nghi vật chất là vật vô tri vô giác.

Sống mà không người thương, không người đồng tình, sống như vậy còn buồn tẻ hơn loài vật, còn có bầy có loại.

Nhưng vật chất cũng là mối suy tư lo lắng giải quyết sự sống, vì dù hắn đã từng được thương yêu, nhưng nỗi ám ảnh đói nghèo đã làm chết hắn bao nhiêu kiếp qua! Ðến đây kẻ say ngủ không còn dám suy nghĩ nữa những oái oăm nghiệt ngã cuộc đời. Lần kiếp này nghiệp thức đưa hắn vào một thế giới (tâm trạng) nửa say nửa tĩnh.

Hắn không tìm được một giải đáp cho cuộc đời, trong khi bao câu hỏi trong đầu cứ tuôn ra. Dù rằng nỗi khổ trong kiếp này không thấm gì cái khổ trong quá khứ. Tất nhiên hắn không thể có Túc Mệnh Thông biết được quá khứ kiếp, nhưng lực cảm thế nào khiến hắn nhìn cái khổ của người chung quanh rồi linh cảm rằng mình từng đau khổ vậy. Hắn thấy cái đau của người mất cha, mất mẹ, mất vợ, mất chồng, mất anh chị em. Cái đau đổ vỡ hạnh phúc vợ chồng, cái đau anh chị em bất hòa, cái đau cha mẹ không dạy được con mình, cái đau của người con không thể phân trần với cha mẹ, cái đau tình bạn hiểu lầm, cái đau thương hóa thành hận. Cái đau của mọi người phải gánh chịu một phần tử bất chánh trong gia đình, xã hội, cái đau của kẻ bất chánh không có người cảm thông, cái đau của người tù ngục, và cái đau của tất cả mọi người chịu đựng nỗi khổ trần gian này.

Hắn tự không biết nguyên nhân nào lại cảm xúc như vậy, dù hiện thời hắn chưa nhận thức được điều gì là tôn giáo tín ngưỡng. Chỉ một điều mà hắn cho rằng, có lẽ vì quá khổ đau trong quá khứ, nên không thể tiếp tục nữa!
Nam Mô A Di Đà Phật
Hình ảnh
Hình đại diện của thành viên
battinh
 
Bài viết: 3737
Ngày tham gia: Thứ 2, 14/11/11 10:58 pm
Đã cảm ơn: 51 lần
Đã được cảm ơn: 305 lần
Giới tính: Nam
Đến từ: Tứ Đại

Re: Vượt luân hồi vào Tịnh Độ

Gửi bàigửi bởi battinh » Thứ 2, 10/12/12 8:48 pm

TÌM KIẾM VÀ ĐỊNH ĐOẠT

Mọi việc theo nhà Phật đều có nhân duyên; hắn bắt đầu nghiên cứu tìm hiểu vấn đề tâm linh. Vấn đề làm thế nào có thể giải đáp bao câu hỏi trong đầu hắn; cũng không phải tuyệt đối là tôn giáo, mà có thể bất kỳ việc gì ở thế gian khả dĩ mang lại an tâm cho đời sống hiện tại, và tất nhiên phải siêu việt tư duy của con người trong thế giới hữu hạn bằng ngôn ngữ thế gian. Hắn muốn nói, điều đó phải thỏa mãn cả hai mặt siêu hình và thực tại. Cuối cùng tín ngưỡng mà hắn ngừng lại để bắt đầu tìm học là đạo Phật. Vì hắn thấy rằng, đạo Phật không hẳn là một tôn giáo, cũng không phải là triết học, cũng không phải là bất cứ tên gì thế gian có thể đặt cho!

Hắn hiểu, tôn giáo tín ngưỡng chỉ để xoa dịu nỗi đau khổ khi con người bất lực không cứu được mình, và nếu con người có thể hiểu rõ con người, hiểu rõ nguồn gốc khổ đau thì con người đã vượt qua tôn giáo.

Nói một cách khách quan hơn, nếu con người là chánh nhân, nạn nhân cần xoa dịu, thì con người cũng là chánh nhân giải quyết những nguyên nhân đã làm con người thành nạn nhân. Cho nên con người không thể cầu cạnh một ai, nếu con người không nhìn thấy được chính con người. Ðiều nữa đấng tối cao hay thần linh cao cả là chỗ quy về, chỗ núp bóng theo ý nghĩa tôn giáo thì quá trừu tượng cao xa, mà xưa nay chưa thấy xuất hiện để mọi người thiết lập được cụ thể mà hành động theo.

Triết học cũng vậy, cũng là sản phẩm của con người, nhưng lại không giải quyết được thực tế hiện hữu sự đau khổ của nhân sinh; có chăng chỉ để làm đẹp cho đời bằng thú vui cao sang chữ nghĩa, hay nếu có cũng chỉ xoa dịu cho những tâm hồn trí thức, trong khi đa số con người trên trái đất là hàng bình dân.

Trong đạo Phật hắn không thấy như vậy, nghĩa là không có cầu cạnh một đấng thần linh hay đấng tối cao nào như định nghĩa của tôn giáo, và sự tôn kính, lễ lạy hiện bày ở nơi chùa chiền chỉ là việc tri ân, mến đức đối với một người học trò kính một bậc thầy là đức Phật, đơn giản vậy thôi. Tất nhiên, tiếp theo hiểu rằng, nếu học trò đó tạo lỗi gây ác nghiệp, thì việc lạy lục cúng bái cũng thành vô ích! Trừ khi song hành với việc lễ bái sám hối, học trò nguyện sẽ không làm ác nữa và từ đó sẽ làm việc thiện đây mới ý nghĩa và hoàn toàn có ích.

Nói về triết lý, nếu đạo Phật được xem như một nền triết học, thì nền triết học này phải xuất phát từ trực giác trí tuệ do công phu tu hành, nên kết quả sẽ đưa đến an lạc giải thoát, chứ không là nghiên cứu theo lý trí (giác quan) phân biệt, để kết quả vẫn mãi là kiến thức, và nhất là kiến thức quá xa mờ trừu tượng không thể đưa mọi tầng lớp con người diệt được khổ hưởng được vui.

Ðó là nhận thức đầu tiên hiểu về đạo Phật, tuy nhiên những vấn đề siêu hình, huyền diệu và nhiệm mầu trong những con người tu sĩ đắc đạo, cũng như nơi thờ phượng tri ân Phật mà hắn chắc chắn rằng phải có. Do vì từ một con người hoàn toàn trong sạch thanh tịnh tâm, tất nhiên sẽ khác hẳn một con người nhiễm ô, bất tịnh. Từ sự khác biệt bên trong giữa Tịnh và Nhiễm, sẽ hiển bày tạo thành mỗi thế giới khác nhau. Và nếu thế giới bên trong nội tâm đã khác, nên thế giới bên ngoài cũng khác. Cụ thể tỉ dụ, lối sống của mỗi người, mỗi trình độ khác nhau chênh lệch, là do bên trong của họ chẳng đồng. Ðiều này mới thấy lối sống các vị chứng đạo, người thường không thể hiểu được.

Về mặt hình thức lễ nghi cúng kiến của đạo Phật, trông nhìn như tôn giáo mà chẳng phải, đó chỉ là phương tiện tùy duyên tiếp nhận phù hợp với mọi căn cơ. Nhưng điểm chính vẫn lấy nền tảng của từ bi và trí tuệ làm chuẩn, cho nên dù thấy rềnh rang nghi lễ nhưng không xa rời thực tế, là phá vọng hiển chân, là chỉ bày sự vật vô thường, đời sống giả tạm, chúng sanh đau khổ, và giải thoát an vui. Có lẽ rõ ràng hơn, trong nhà Phật hay nói: Tùy duyên bất biến, bất biến tùy duyên, nghĩa là người hành đạo giải thoát phải biết tùy duyên khi tiếp cận với người và cảnh, nhưng khi tùy duyên như vậy lý tưởng giải thoát, giới học người tu sẽ không bao giờ thay đổi (bất biến).

Ðại khái hiểu được vậy là do hắn học hỏi từ kinh sách Phật, từ những người tu hành nghiêm cẩn nói ra; điều đó làm hắn cảm thông chấp nhận như một lối sống đáng tín ngưỡng hành theo, mà không phải là tín ngưỡng phản lại chánh tín, chánh tư duy.

Hắn lại thấy, không những đạo Phật đáp lại được hoài nghi thắc mắc của hắn mà còn vô số giải đáp khác mà hắn chưa bao giờ nghĩ ra. Ngoài ra còn nhiều điều lạ, hắn phải đam mê đeo đuổi.

Ðiểm độc đáo nhất, khi vị giáo chủ là Phật Thích Ca cũng chẳng cần ai đeo đuổi ngợi ca; điều này sẽ không xãy ra ở đạo giáo khác! Vị giáo chủ Thích Ca chỉ tự cho mình là người chỉ đường hướng đạo! Ðây là điều mà hắn vô cùng kính phục. Hắn thầm suy nghĩ đến một đoạn kinh Phật dạy: "Hãy đến đây: người Kãlãma, không nên chấp nhận điều gì chỉ vì nghe nói lại (tỉ như nghĩ rằng ta đã nghe điều này từ lâu) không nên chấp nhận điều gì chỉ vì tập tục cổ phong truyền lại như thế (tỉ như nghĩ rằng điều này đã được truyền lại từ bao nhiêu thế hệ). Không nên chấp nhận điều gì chỉ vì có lời đồn đãi như vậy (tỉ như tin lời người khác mà không suy xét). Không nên chấp nhận điều gì chỉ vì điều ấy đã được ghi chép trong kinh sách. Không nên chấp nhận điều gì chỉ vì mình đã ức đoán như vậy. Không nên chấp nhận điều gì mình suy diễn như vậy. Không nên chấp nhận điều gì theo bề ngoài. Không nên chấp nhận điều gì chỉ vì điều ấy hợp với thành kiến mình. Không nên chấp nhận điều gì chỉ vì điều ấy hình như có thể chấp nhận được (tỉ như nghĩ rằng điều này phải được chấp nhận). Không nên chấp nhận điều gì chỉ vì nghĩ rằng vị tu sĩ thốt ra điều nầy đã được ta kính trọng từ trước (và như vậy lời nói phải được chấp nhận).

Một vị giáo chủ khai sáng chủ trương đạo mình, lại khước từ những người nhẹ dạ tin theo, khước từ người vị nễ tin theo, khước từ tất cả dù là chân đế (chân lý, pháp giải thoát) nếu người tin theo chân lý mà không tư duy suy xét điều đó đúng hay sai, để thực hành phù hợp lý trí tư duy với chánh pháp, không tổn hại người và chính mình.

Quả thật là lời dạy cụ thể chân như, không một vết chấm dị đoan mê tín.

Và tất nhiên tiếp theo, ngài dạy phải ứng xử thế nào với thắc mắc nghi ngại để thiết lập niềm tin.

"Tuy nhiên, khi tự các con hiểu rõ rằng - những điều nầy không hợp luân lý; những điều nầy đáng được khiển trách, những điều nầy bị các bực thiện trí thức cấm đoán, nếu thực hiện những điều nầy sẽ bị phá sản và phiền muộn - thì hẳn các con phải từ bỏ, không làm điều ấy.

Khi các con hiểu rõ rằng - những điều nầy hợp luân lý; những điều nầy không bị khiển trách, những điều nầy được các bực thiện trí thức tán dương, nếu thực hiện những điều nầy sẽ được an vui hạnh phúc - thì hẳn các con phải hành động đúng như vậy"
(1).

Ðiều nữa vị giáo chủ lại dạy rằng không phải chỉ duy có ngài là bậc siêu việt, mà ai ai cũng sẽ siêu việt như ngài nếu hành động theo đúng chân lý. "Ta là Phật đã thành các ngươi là Phật sẽ thành" hay "Tất cả chúng sanh đều có Phật tánh" (nhất thiết chúng sanh giai hữu Phật tánh).

Ngoài việc hắn khâm phục, kính mộ như vậy, lại có những vấn đề khiến hắn phải suy nghĩ, lo ra. Ðấng Ðại giác có lần dạy đệ tử ngài, bằng cách đặt vấn đề dẫn dụ: "Lá cây trong tay Như Lai và lá cây trong rừng, số lá nào nhiều hơn?" Tất nhiên câu trả lời - lá cây trong rừng, số nhiều hơn không thể đếm được. Ðấng Ðại giác liền dạy: "Cũng vậy những gì Như Lai chỉ dạy các ông như số lá trong tay Như Lai, và những gì Như Lai hiểu biết ví như lá trong rừng!"

Ðây là vấn đề hắn phải hoang mang! Thế thì làm sao, chừng nào thành đấng Toàn giác? Trong khi chỉ có lá cây trong tay Như Lai mà hàng đệ tử Phật từ xưa đến nay, có ai học hiểu hết đâu? Dù đã có nhiều vị chứng đắc từ thời Phật đến nay, thì bậc cao nhứt chỉ là quả vô sanh (A La Hán)! Vậy lời Phật dạy các người là Phật sẽ thành, thì chừng nào mới thành!!?

Khó hiểu như thế, nhưng hắn vẫn thầm kính phục đấng Toàn Giác, vì đã là đấng Toàn Giác thì không bao giờ nói sai, dù sai một li hào mảy may cũng không có! Hắn hứa với lòng mong sao tìm được câu trả lời này!

Ðiều nữa làm hắn giựt mình, khi Như Lai cũng đem tỉ dụ so sánh dạy các đệ tử "Ðất trong tay Như Lai so với đất đại địa, bên nào nhiều hơn?" Cũng vậy, những người sanh được cõi trời và trở lại cõi người ví như đất trong tay Như Lai, và số còn lại rơi vào đường khổ dữ (địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh) như đất đại địa. Hắn phải toát mồ hôi; nhìn lại mình đang may mắn thọ thân người, và sự may mắn hơn là nghe được "bí mật" này!

Một thoáng hiện qua hắn chợt nghi ngờ lời Phật dạy! Tại sao người trên quả địa cầu tính từ ngày Phật nhập diệt đến nay chỉ có tăng chớ đâu giảm; đến nỗi các nước đông dân phải báo động kế hoạch hóa gia đình, chỉ sanh một đến hai con. Thế, cớ sao Phật dạy, sanh trời, người ít như đất trên tay!

Thắc mắc thoáng qua thì giải đáp chợt xuất hiện; nhìn qua khung cửa sổ trước bàn kinh sách nơi hắn đang ngồi suy tư, một đàn kiến nối nhau bao quanh khung cửa tạo nên một vòng giây màu nâu đỏ, xê dịch chuyển động nhịp nhàng. Lượng kiến quá nhiều khó đếm được bao nhiêu con! Bất giác hắn cười lên. Thôi đúng rồi, Phật dạy quả không sai. Chỉ lấy số kiến đem so với người cũng đã hơn rồi, huống chi còn vô số loài khác. Vì kiến ở đâu không biết, nhưng nếu có vật ngọt mồi ngon vứt bỏ, tức thì chẳng bao lâu kiến xuất hiện. Rồi không phải chỉ có ở khung cửa sổ nhà hắn, mà khắp cả đất nước nơi nào cũng có. Lại nữa, không phải chỉ có quốc gia hắn đang ở, mà các nước Việt Nam, Thái Lan, Miến Ðiện, Nhật Bản, Nam Dương, Hoa Kỳ, Pháp, Ðức v.v... đều có kiến, hay nói đúng hơn tất cả phần đất trên cõi Ta Bà này hầu như đều có.

Tích chuyện xưa, ngài Xá Lợi Phất chỉ cho ông Cấp Cô Ðộc xem một đàn kiến, đã chịu nghiệp kiến chết đi sống lại trải mấy thời Phật vẫn còn!(2)

Hắn nhóm người đứng dậy, thầm đọc bài kệ "Uống nước", mà hắn đã nghe quý vị tu sĩ thường dạy:

    Phật quán nhất bát thủy
    Bát vạn tứ thiên trùng
    Nhược bất trì thử chú
    Như thực chúng sanh nhục
    Án phạ tất ba ra ma ni sa ha.

    Phật nhìn một bát nước
    Tám vạn tư vi trùng
    Nếu không trì chú nầy
    Như ăn thịt chúng sanh
    (3).
Cả vi trùng nữa! Thật là Phật tế nhị chẳng nói thẳng ra, không khéo mình sẽ sanh vào thế giới vi trùng; và nơi đó số lượng làm sao đếm được! Vì có thấy đâu mà đếm!? Dùng kiếng hiển vi thì chỉ thấy phạm vi quá nhỏ; thế tính được bao nhiêu vi trùng trong một hồ bơi!!!

Ôi! Phật là đấng siêu việt không sai.

Sung sướng thay, may mắn thay làm được kiếp người! Một kiếp chúng sanh quá ít oi như đất trên tay Phật!

Hắn bắt đầu tìm hiểu, thực hành tu học theo từng bước, mong thành đạt con đường mà Phật dạy tất cả chúng sanh đều có Phật tánh.
Nam Mô A Di Đà Phật
Hình ảnh
Hình đại diện của thành viên
battinh
 
Bài viết: 3737
Ngày tham gia: Thứ 2, 14/11/11 10:58 pm
Đã cảm ơn: 51 lần
Đã được cảm ơn: 305 lần
Giới tính: Nam
Đến từ: Tứ Đại

Re: Vượt luân hồi vào Tịnh Độ

Gửi bàigửi bởi battinh » Thứ 3, 11/12/12 9:38 am

Trước hết hắn phải quy y ba ngôi Tam Bảo là Phật Pháp Tăng, chính thức bước vào ngôi nhà giải thoát.

Nếu không quy y thì chỉ là học hiểu theo tâm niệm của người nghiên cứu, hay ngưỡng mộ tầm thường thôi.

Hắn hiểu, nền tảng quy y Tam Bảo là xây dựng tâm tưởng mình vào một lý tưởng giải thoát, cứu độ chúng sanh. Có quy y thì tất cả hành động thiện sẽ không dính mắc theo kết quả lời lỗ vay mượn; gọi đúng theo nhà Phật chỉ là phước báo hữu lậu. Phước báo đó tất phải vô thường, chưa nói, đôi khi phản lại hành động thiện ban đầu, do vì thọ báo sung sướng người ta hay dễ sanh tâm tham đắm ô trược, để rồi trôi lạc vào vòng đau khổ, lại mãi chạy vòng vòng mà không biết nguyên nhân, chưa Quy Y Tam Bảo. Ðó là hình ảnh chính kẻ say ngủ đã ngụp lặn từ vô thủy đến nay.

Quy y Tam Bảo, mọi hành động tự nó chiêu cảm vào tánh thức giải thoát, kết nạp mình vào dòng ý niệm duyên khởi xây dựng chủng tử thiện pháp, và thanh tịnh được mọi hành động hướng về kết quả siêu việt của chân thiện mà nhà Phật gọi là phước báo vô lậu vậy.

Không nên hiểu một cách hạn cuộc, tầm thường là quy y Tam Bảo thì trở thành con Phật và đệ tử của Thầy A, Thầy B, Chùa C, Chùa D v.v... Như vậy sẽ tạo nên phân biệt cố chấp, vô tình đánh mất tánh chất giải thoát, thanh tịnh của sự quy y, và lý pháp nhiệm mầu siêu xuất của pháp giải thoát - khiến người hiểu Phật pháp nhìn thấy buồn cho, cũng như chính bản thân mình khó uống được hương vị giải thoát của Tam Bảo. Trong khi, nên hiểu, Phật là sự giác ngộ tự tánh của mình, Pháp là dòng sống thánh thiện của chánh lý thiện pháp, và Tăng là thể hiện sự thanh tịnh của con người khi tỉnh ngộ dòng pháp chân lý kia. Nhưng dù nghe quy y đơn giản rõ ràng như vậy, ta vẫn không thể tìm được và tự mình biết được để giữ cho dòng ý thức lưu mãi hiểu biết này, do đó ta phải chính thức cầu xin quy y trên hình thức, qua lời thống thiết tác bạch, được chứng minh bằng lời kinh pháp, cùng với vị Thầy là đại diện pháp thân thanh tịnh chứng minh cho. Nói đúng hơn nếu không có sự xuất hiện của Ðấng toàn giác ta sẽ trôi lăn mãi trong vòng sinh tử, và hẳn nhiên không bao giờ biết Tam Bảo là gì, nói chi đến quy y! Do đó mà nói làm người là khó, lại nghe được Phật pháp còn khó hơn. Nhưng hiểu thêm ra, được quy y nương tựa Tam Bảo còn khó hơn nữa, bởi vì nhiều người đã nghe Phật pháp mà chưa thể quy y.

Vậy ai cũng nên quy y Tam Bảo, là việc đầu tư kho báu đời này và mai sau.

Sau khi được quy y Tam Bảo, kẻ say ngủ giờ đây phần nào thức tỉnh. Hắn bắt đầu học kinh, ngồi thiền, niệm Phật.

Việc đầu tiên mà hắn phải giải quyết để từng bước, bước vào pháp giải thoát. Ðó là năm giới của người học Phật.

    - Giới đầu tiên, không sát sanh:
Hắn suy tư lại dòng sống ngút ngàn của một chúng sanh trong sanh tử, phải chịu mọi khổ đau phiền não từ thân đến tâm. Dù sanh trong hoàn cảnh nào, dù mang hình thù chi chúng sanh đó cũng phải chịu mọi khổ đau thân tâm như vậy.

Chúng sanh hình thù càng lớn sự đau khổ càng nhiều, nhưng chúng sanh càng nhỏ ai lại biết cái đau khổ ra sao! Sự đe dọa của ngoại cảnh xúc tác vào thân thì thân nào chẳng đau đớn. Bộ óc nhỏ lớn ra sao cũng không ngoài cảm thọ khổ vui, nên dù lớn dù nhỏ sự cảm thọ khổ vui không khác; nghĩa là con vi trùng vẫn có thế giới của nó và trong thế giới đó nó vẫn đau khổ qua sự tranh dành miếng ăn, tránh né sự đe dọa tánh mạng, không khác gì con voi hay khủng long là loài động vật lớn hơn nó gấp bao triệu lần không tính được!

Như thế người học Phật hiểu rằng, bất cứ loài chúng sanh nào đều có sự xúc tác đến hoàn cảnh sinh tồn, đều đang trôi nổi trong một dòng sống ngút ngàn sinh tử và tất nhiên dòng sống ấy phải là đau khổ.

Do thế người học Phật chắc chắn đã biết, Phật dạy Khổ là chân lý(4).

Nhưng khổ có riêng ai không! Hẳn nhiên không của riêng ai - điều đó chỉ cho tất cả chúng sanh đang lặn hụp vậy.

Ðừng nói là chúng sanh ở cõi Ta Bà này khổ thôi, mà cả cõi trời cũng còn trong vòng khổ.

Vậy ra chúng sanh đang khổ, lẽ nào lại gây thêm khổ, như phải cướp đi sinh mạng chúng sanh.

Chúng ta chưa nói đến khổ về tinh thần, chỉ nói đến cái khổ thể chất mà thôi.

Một số người không học đạo giải thoát, vẫn biết thương người mến vật, huống gì người đang học Phật và đã quy y Tam Bảo! Do đó bằng cách nào phải trải lòng từ bi đến tất cả.

Thật ra phạm nghiệp sát sanh là do ta không đủ trí huệ nhận thấy, nên có sự phân biệt người vật, để rồi xem thường sự sống của chúng, biến thành phẩm vật cung dưỡng cho ta.

Với cái nhìn của bậc giác ngộ, chắc chắn các Ngài đã nghe và thấy sinh hoạt tất cả các loài chúng sanh. Như các vị Bồ Tát vì lòng từ bi, thị hiện vào loài người mang đủ hình dạng để cảm hóa cứu khổ chúng ta, không lẽ nào các Ngài lại không thị hiện vào loài súc sanh là hạng chúng sanh đang cần giải thoát hơn con người!.

Lòng từ bi cứu khổ của Bồ Tát chắc chắn không thể làm ngơ được. Ðộ bằng cách nào thì chúng ta chẳng rõ.

Loài người so với súc sanh hầu như hoàn toàn sung sướng hơn. Nói rằng hầu như chớ không tuyệt đối, vì vẫn có một ít con vật có đời sống sướng hơn cả một số người. Hình ảnh này hiện đang xảy ra nơi các nước giàu có văn minh.

Loài chó mèo ở đây (Úc Ðại Lợi) có con được may mắn săn sóc không kém một con người là bao; chúng cũng được Bác sĩ chẩn bệnh khi đau ốm, cũng được chọn lựa thực phẩm rẻ tiền hay đắc tiền từ nơi siêu thị, và nhất là loài chó thỉnh thoảng phải dẫn ra ngoài bách bộ để thư thả thần kinh; sợ ở nhà ăn uống ngủ nghỉ dinh dưỡng quá thành bệnh!

Ở nhà, có nhà riêng trong vườn, (doghouse) nhưng một vài chủ quá cưng cho ngủ luôn trong nhà. Khi chúng chết lại được chôn cất đàng hoàng nơi nghĩa trang dành riêng, một cách có hình thức thủ tục; và nghi thức hạ kim quan cũng trang nghiêm giống như người vậy. Người chủ cũng nhỏ lệ tiếc thương dựa đầu vào người bên cạnh ngậm ngùi, thương tiếc!

Hình ảnh như vậy không phải là cách bày vẽ lập dị của những người giàu có đơn độc thiếu tình thương với người mà mượn loài vật làm vui. Ðiều này cũng phần nào đúng, đối với những lão niên ở một mình tìm vật hủ hỉ làm bạn, tuy nhiên tự con vật đó đã thể hiện một sự gần gũi thông minh cảm tính như người.

Chắc chắn người sống ở xứ văn minh không lạ gì các chú chó hướng dẫn người mù đi lại qua đường. Và chuyện chó trung thành với chủ, nghe qua ai lại không cảm động! Rõ ràng loài chó có thế giới riêng của nó, và có thể phần nào "hội nhập" cảm nhận được thế giới loài người. Thế thì các chú chó may mắn được gần gũi và đối xử phần nào giống người vậy, chắc chắn phải có sự liên hệ trong vòng luân hồi nhân quả mà giáo lý nhà Phật đã dạy.

Người và vật cảm hiểu được nhau, tức có nguyên nhân; minh chứng cụ thể, ta thấy các con vật trong đoàn xiếc (circus). Nếu không, làm gì con người có thể thuần hóa được chúng một cách phi thường vậy!.

Bây giờ mới thấy rõ, sáu nẻo luân hồi Trời, Người, A Tu La, Ðịa ngục, Ngạ quỷ, Súc sanh là những chặng đường mà một chúng sanh có thể sanh lên sanh xuống. Vậy thì tránh sát sanh hại vật là điều tự nhiên, khi thế giới loại vật ấy, một thời ta cũng từng trải qua; được như thế cũng là cách ngừng lại sự ân oán trả vay, vay trả.

    - Giới không được trộm cắp:
Sự sống cần nên hài hòa trung dung, cần nên chia xẻ xây dựng, kiến tạo môi trường sống hòa bình thịnh vượng. Từ xưa đến nay đó là nền tảng; như thế mới mang đến cuộc sống an vui gia đình hạnh phúc.

Một cá nhân nếu giữ được tâm rộng lượng chia xẻ với mọi người, cá nhân đó sẽ được người thương mến, và theo luật nhân quả sẽ chẳng bao giờ thiếu thốn dù sống bất cứ nơi đâu. Xã hội và quốc gia có được nhiều con người như vậy, nhất là được con người đó lãnh đạo chắc chắn quốc gia ấy không thể nào yếu kém được.

Ngược lại là cướp đi sự hài hòa trung dung tức gây mất mát đau khổ cho người khác. Người không học Phật cũng chẳng bao giờ làm điều này huống chi người muốn giải thoát.

Thử nhìn lại con người mình qua nhu cầu thọ hưởng đời sống vật chất đầy đủ; nhưng nếu phương diện nào đó bị khuyết điểm, thường hay tiêu hao, không thể đầy đủ như người khác, thì ta có thể đoán biết rằng trong những đời sống quá khứ ta đã không rộng rãi với ai, hoặc đã phạm giới trộm cắp. Dù rằng ta vẫn được phước báo ấm no như ngày nay, do tạo thiện nghiệp quá khứ, nhưng bên cạnh vẫn phải chịu ảnh hưởng của những tác nghiệp trộm cắp đời trước. Do đó nên cẩn thận, chớ tưởng rằng việc lấy cắp một vật gì, không ai thấy, không tổn thương ai sẽ không có quả báo.

    - Giới không được tà dâm:
Người cư sĩ tại gia, chỉ tìm hạnh phúc nơi gia đình chồng vợ của mình, tránh liên hệ gây khổ đau phá vỡ hạnh phúc gia đình mình và người khác. Như vậy hợp cách với tinh thần luân lý, và xã hội đất nước nào cũng vui mừng khi thấy hạnh phúc của mỗi gia đình được tôn trọng. Ðó là kết quả sanh ra những con dân ưu tú thông minh hạnh phúc.

Sự bất chánh giao du với người khác không phải là chồng vợ mình, chẳng những hậu quả phải cư xử lén lút không tự nhiên, mà hậu quả còn ảnh hưởng đến đứa con của hai người. Vì sự ra đời của đứa bé hẳn có liên hệ đến cả hai vợ chồng, nhưng đây lại không phải vợ chồng (chính thức) nên đứa bé sẽ không như ý mơ ước của hai người!

    - Giới không nói dối:
Nhân cách của một người được điểm lên bằng hành động và lời nói. Cũng thế sự hủy hại thanh danh tư cách của mình cũng từ đây. Lời nói dù ít hay nhiều đều có ảnh hưởng, nhất là cá nhân nào có quyền hạn thì tác dụng lời nói sâu nặng hơn và kết quả sẽ tương ứng.

Phật dạy "Nói năng trong chánh pháp, im lặng trong chánh pháp", điều đó cho thấy, lời nói để tạo ra chánh pháp không phải là dễ.

Ðời sống một ngày, bắt đầu từ khi thức giấc cho đến về phòng nghỉ lại, ta đã phát ra rất nhiều âm thanh. Những âm thanh nầy có khi vô tình cũng khi cố ý tạo ra không ít phiền não đau buồn đến người khác. Ngay đến con vật cũng hoảng hồn khiếp vía khi ta la hét đuổi xua chúng! Và chắc chắn rằng không ai lại chịu đựng sống chung với người thường hay thốt ra những lời cay cú, cộc cằn, gay gắt.

Nếu như con vật còn cảm được âm thanh êm dịu, êm tai, thì con người làm sao không hạnh phúc khi được sống chung với người khẩu hòa, ái ngữ!

Nói năng trong chánh pháp, căn bản trước tiên là không nói dối, rồi sau đó mới trong sạch được ngữ ngôn của mình, cuối cùng mới phát được lời hay ý đẹp.

Hậu quả và lợi ích không nói dối đã quá rõ ràng mà ai cũng có thể nhận ra. Nhận định thêm về hậu quả, là ngay trong đời này mọi người sẽ xa lánh ta; ta không còn uy tín với ai dù với một đứa bé.

Mất uy tín rồi khó mà lấy lại, đây là niềm đau lớn, lớn hơn cả nạn nhân bị ta nói dối. Nếu ta bỏ xứ đi nơi khác, thì, do thói quen ta dễ tái phạm và đây lại là hậu quả do ta xem thường sự quan trọng của lời nói. Phương cách diệt trừ nói dối, là nhận định được lợi ích của sự thành thật thế thôi!

Không nói dối được người quý mến; lại có người tìm đến xin kết bạn mà chẳng cần tìm bạn, đó là lợi ích nhỏ nhứt và sơ khởi. Không nói dối nên có uy tín, vì có uy tín, đến đâu làm gì cũng được người giúp đỡ, ủng hộ. Không nói dối ảnh hưởng đến thành viên trong gia đình, nên các con cháu, em út đều noi theo. Và quan trọng hơn hết, đã thực hành phần nào nói năng trong chánh pháp; lợi ích này mới là lợi ích vĩnh hằng cho con đường thoát khổ đời sau.

    - Giới không uống rượu:
Ðây là giới cuối cùng trong năm giới, và đó là căn bản của người đang quy hướng vào con đường học Phật. Giới đây xem ra thật quan trọng, dù thực tế nhận thấy, hành động uống rượu không gây tổn thương ai; nhưng một khi đã phạm vào giới này đến mức say sưa, thì lý trí, tâm bình tiêu mất, từ đó là tác nhân phá hết bốn giới trên.

Tuy nhiên, người cư sĩ học Phật hiểu vậy, vẫn khó tránh phạm, chỉ vì đang sống trong thế giới văn minh hiện đại ngày nay. Nhưng giáo pháp của Phật là dòng suối, tuôn chảy vào mọi hang cùng ngõ hẽm, nên dù hoàn cảnh nào người học Phật cũng có giải pháp hóa giải tiến tu.

Chúng ta phải hiểu qua tinh thần học đạo Ðại Thừa, phải "Tùy duyên bất biến, bất biến tùy duyên". Khi người cư sĩ vì liên hệ với công việc, phải xả giao qua tiếng chào ly rượu, đó chẳng phải kẹt chấp gì; điều quan trọng chỉ cần ghi nhận, định vị được vị trí con người của mình đang là người học Phật, thì hành động xã giao kia sẽ có giới hạn và chấm dứt ngay khi việc đã dừng. Nếu không ý thức được như thế, chỉ còn cách xin thọ nhận bốn giới trên; tuy nhiên chân lý vẫn là chân lý, nghĩa là dù không thọ giới "không uống rượu", tác động của nó vẫn làm hư hại bốn giới trên, lẽ đó tốt hơn nên ý thức về việc uống rượu, cho dù có thọ giới hay không thọ giới.

Giới không uống rượu còn phải hiểu, những gì làm đê mê, kích thích mất đi lý trí, tâm tánh sáng suốt... những thứ như vậy không được dùng.

Khi đã hiểu qua căn bản năm giới, kẻ lang thang say ngủ cảm nhận được tương đối về những gì Phật dạy.
Nam Mô A Di Đà Phật
Hình ảnh
Hình đại diện của thành viên
battinh
 
Bài viết: 3737
Ngày tham gia: Thứ 2, 14/11/11 10:58 pm
Đã cảm ơn: 51 lần
Đã được cảm ơn: 305 lần
Giới tính: Nam
Đến từ: Tứ Đại

Re: Vượt luân hồi vào Tịnh Độ

Gửi bàigửi bởi battinh » Thứ 3, 11/12/12 10:02 pm

Chương II
HIỂU LỜI PHẬT DẠY TRONG KINH A DI ĐÀ

Mượn ngài Xá Lợi Phất, chắc chắn Phật có dụng ý nhắc nhở người tu trong thời ngũ trược - muốn cảnh tỉnh cho ai đó không tin và xem thường pháp kinh này.

Tổng cộng tên ngài Xá Lợi Phất được nhắc đến trong6/luctudida.jpg[/img][/center] kinh A Di Ðà là ba mươi tám lần.

Kinh A Di Ðà lại thật ngắn chẳng bằng một vài chương của các kinh lớn như: Lăng Nghiêm, Pháp Hoa, Hoa Nghiêm, Niết Bàn, Bảo Tích... Vậy mà tên vị đại Thánh được nhấn mạnh lưu ý đến ba mươi tám lần.

Hẳn chắc phải quan trọng, đáng suy nghĩ những gì Phật nói. Ngoài ra còn có các vị vua ở cả cõi trời nữa, như vua Ðế Thích, và vô lượng các vị Trời đều tham dự. Xét xem như thế, pháp hội giảng nói kinh A Di Ðà, số thính chúng được xác nhận rõ ràng; điều này cho biết đích thực giá trị quan trọng lợi ích của thời pháp.

Với các thời pháp trước và sau kinh A Di Ðà, số Bồ Tát, Thánh chúng, trời, người tham dự tương tự đông như vậy; nhưng thử để ý xem, những thời pháp ngắn thường tác động mạnh đến người nghe. Vì, thứ nhứt dễ nhớ, nên dễ hiểu do đó dễ thực hành. Nếu đem so pháp hội Hoa Nghiêm làm sao nhớ nỗi, thậm chí pháp hội Pháp Hoa được xem là tối thắng quan trọng, được hàng học Phật luôn luôn nhắc đến nhưng có ai lại thuộc kinh này! Thành ra Kinh Pháp Hoa ít nhiều trở thành sự hiếu kỳ để mọi giới nghiên cứu, và việc thực hành khó mà trọn vẹn - cũng do đây, việc rút ra một phẩm lợi ích thiết thực cho hàng học Phật trì tụng tu hành, đó là phẩm Phổ Môn thứ hai mươi lăm, thật đúng khế lý khế cơ (hợp chân lý, đúng căn cơ).

Như thế mới thấy, càng về thời cách xa Phật, những kinh ngắn gọn có tính cách nhắc nhở đánh thẳng vào tâm dễ cứu độ chúng sanh hơn.

Phật nói cõi tuyệt đẹp an vui đó nằm ở Phương Tây, làm hắn phải suy nghĩ!

Trong vũ trụ vô cùng vô biên, thì trái đất nằm ở phương nào để làm chuẩn tìm phương Tây?

Nói phương Tây là căn cứ vào thái dương hệ thế giới chúng ta lấy mặt trời làm điểm, nhưng thái dương hệ này nằm trong giải ngân hà Milky Way, mà trong vũ trụ có đến hàng tỉ giải Ngân hà!

Về cõi Phật A Di Ðà cách thế giới chúng ta đến mười muôn ức Phật độ. "Từ phía Tây này, qua mười muôn ức cõi nước chư Phật, có một thế giới tên là Cực lạc..." (Tùng thị Tây phương, quá thập vạn ức Phật độ, hữu thế giới danh viết Cực Lạc...).

Theo Ðại sư Ngẫu Ích giải thích danh từ Phật độ: "là một khu vực của một vị Phật hóa độ, có một ngàn triệu Thái dương hệ, trong kinh Phật gọi là một Tam Thiên đại thiên thế giới .. "(1).

Phật Học Từ Ðiển Ðoàn Trung Còn, giải thích Tiểu thiên là một ngàn thế giới, Trung thiên triệu thế giới và Ðại thiên thì một ngàn triệu thế giới, tức một tỉ.

Vậy trong phạm vi của một cõi Phật bao gồm một tỉ thế giới; và cõi Cực Lạc lại đi qua hơn mười vạn ức Phật độ tức khoảng mười tỉ Phật độ(2). Thế thì không biết bao nhiêu là thế giới; con số đã vượt qua sức tưởng tượng của hắn, và hắn đã quên mất, chỉ phạm vi giải ngân hà Milky Way của chúng ta thôi, con người đã không thể tưởng tượng được, có gì xảy ra trong đó, với vài trăm tỉ thế giới!

Nhìn lại hành tinh (trái đất) mình đang ở, đối với quỹ đạo của thái dương hệ đã quá nhỏ, nay so với một ngân hà Milky Way thì hình dạng trái đất có còn gì để nói!

Thế thì hướng Tây Phật dạy ở đây, không phải là cái hướng của con người cố chấp bé nhỏ, sống trong một thế giới bé nhỏ và ngay cả một giải ngân hà cũng bé nhỏ luôn!

Hắn không dám đi xa nữa, vì chẳng thể nghĩ được, cũng chẳng còn kẹt chấp vào Ðông Tây chi nữa; nhưng để xem kế tiếp thế nào, mà Phật phải nói một bài pháp lạ lùng liên hệ đến những cảnh giới quá sức tưởng tượng!?

Vấn đề chúng sanh không khổ chỉ thuần vui, bây giờ hắn đã mạnh dạn hiểu hơn, vì hắn cũng đã tự giải thích chính mình rồi (thế giới Phật, do Ðại bi tâm nguyện chiêu cảm ra chớ không phải thế giới cộng nghiệp của chúng sinh). Bởi vì muốn cho chúng sanh phát tâm cầu sanh về Tây phương Cực Lạc nên Ngài mới nói vui và khổ, chứ thật ra tự nó không khổ không vui. Chúng sanh đã thanh tịnh, hoàn cảnh phải thanh tịnh nên không có vấn đề khổ với vui - vì chuyển vọng thức thành thật trí thì cả danh từ khổ vui cũng chẳng xuất hiện! Cho nên đoạn kinh có nói: Này Xá Lợi Phất, "Cõi nước Phật kia, còn không có tên ba đường ác thay, huống là có thật".

Tuy nhiên, dù là đấng Ðại giác, lời nói của ngài cũng không thể không làm chúng sanh nghi ngờ, do vậy Phật phải kể rõ việc vui là vui thế nào, an lạc là an lạc ra sao?

Thật ra Phật không cần kể rõ như vậy; Phật có thể nói ngắn gọn rằng, nơi ấy có cõi Phật A Di Ðà, thật đúng nơi đáng cầu sanh về, thuận tiện con đường tu, các ông nên cầu sanh sang cõi đó. Chỉ cần vậy thôi cũng quá đủ, và các thính giả Bồ Tát, Thánh chúng... sẽ tin ngay mà không cần thắc mắc - do họ dư biết, với đấng Ðại giác không có việc phải nghi ngờ, nhất là những gì Phật đang giảng dạy, đều là giáo pháp thoát ly sinh tử.

Vậy thì chỉ có lý do khiến Phật phải kể rõ ra vì, cho chúng sanh trong thời không có Phật tại thế; và thời điểm đáng nói, ngay thời này vậy (mạt pháp). Quả thật đấng Ðại giác thương chúng sanh quá mức rồi!

Cảnh trí ở Cực Lạc Phật nói thế nào?

Phật nói, ở đó có những dậu rào, lưới chăng toàn thất bảo, có ao thất bảo, có nước bát công đức, có cát vàng óng ánh, lối đi bằng vàng, bạc, lưu ly, pha lê, xích châu, mã não.

Trong ao thì có hoa sen: xanh, vàng, đỏ, trắng nhiệm mầu thơm sạch v.v... và v.v...

Thật ra không thể nào tả được cảnh ấy, đức Phật quá từ bi nên ngài mới nói chi li cho người thế gian biết vậy; tuy nhiên nếu ngài không nói thì còn mấy người tin! Vì thế gian ai cũng ham vui, sợ khổ!

Thử hỏi, nơi đây con người thân hình thô kệch, tâm tánh gần như toàn chứa trược phiền ưu não mà vẫn chiêu cảm dệt nên một chút y báo, biến ra ít vài quặng mõ, vàng bạc kim cương... vậy nghĩ xem các bậc Thánh nhơn ở cõi tuyệt đẹp kia, thân hình toàn ánh sáng vi diệu, tâm tánh lại tuyệt tịnh, an nhiên thì y báo chiêu cảm sẽ thế nào! Không lẽ cũng vài hình ảnh bạc vàng, kim cương, san hô mã não! Chắc chắn cái đẹp nơi đó con người không thể hiểu được; thành ra cảnh đẹp huyền diệu kia phải đành mượn cái đẹp nhất ở thế gian mà tỉ dụ!

Ðiều có thể nghĩ ra, việc tả cảnh đẹp thế nào, sẽ không thành vấn đề, vì tâm đã hoàn toàn trí chơn thanh tịnh, thế còn gì sung sướng giải bày! Ðức Phật há từng dạy "không có hạnh phúc nào bằng sự thanh tịnh của tâm" đó sao!

Thực tế nghĩ xem, khi tâm người yên tịnh, an vui không dính một chút lụy phiền, thế nhìn cái gì chẳng đẹp; vậy có phải tất cả đều biến thành trân châu ngọc báu! Ngược lại khi ưu buồn khổ tâm phiền não thì còn chi nữa là cảnh, là người! (người buồn cảnh có vui đâu bao giờ, Nguyễn Du)

Tả cảnh đẹp xong, Phật liền cho biết tất cả việc như vậy là do trang nghiêm công đức tạo thành. Tất nhiên công đức thù thắng dệt nên cảnh đó chính bởi đức Phật A Di Ðà; bằng lời nguyện của ngài mà thế giới hình thành tươi đẹp. Do công đức tu niệm hằng kiếp, mới có thể lập thành một thế giới y báo trang nghiêm hợp theo chánh báo tuyệt đối thanh tịnh của Ngài.

Nhưng tại sao một mình ngài lại tạo ra cả một thế giới, và thế giới đó không những tuyệt đẹp bất khả tư nghị, mà còn có thể tiếp thu dung chứa vô số chúng sanh ở các cõi khác đến sống!?

Một điều hiểu ngay, vì ngài là Phật, là đấng Giải thoát vượt ngoài sinh tử, viên mãn hết thảy vấn đề, và vượt siêu cả ý niệm về vấn đề nữa, nên tự tại hiện thân thế giới thanh tịnh lưu xuất từ Ðại bi tâm của ngài mà ra.

Tưởng tượng và suy nghĩ việc làm của đức Phật là một trong những điều không thể làm được đối với chúng sanh, kể cả chư Bồ Tát lớn - nên chỉ có thể cố hiểu một cách đơn giản như vậy.

Riêng nghĩ về một chúng sanh, tức nghĩ về tự ngã của mình, thì rõ ràng hoàn toàn không thể sánh được với bậc Giải Thoát, tuy nhiên mình cũng có một thế giới, thế giới phiền não Tham, Sân, Si!

Tự mỗi người mang theo ba nghiệp ô nhiễm dù mức độ khác nhau, nhưng dòng tâm thức bất tịnh chảy chung về hành khổ, do vậy không thể tự lực chiêu cảm thành một thế giới theo sở hạnh của mình, mà phải chịu lực kéo của nghiệp thức về chung, đồng tạo nên thế giới khổ.

Tỉ dụ đại khái, một đứa bé năm bảy tuổi phải luôn luôn sống theo hoàn cảnh của người lớn; người lớn làm thế nào chúng phải đi theo làm vậy (nghiệp lực phải chịu). Và dù chúng có đến trăm đứa, ngàn đứa chúng cũng không thể làm nên một xã hội, bởi vì chúng chưa đủ hiểu biết (chưa chứng đạo giải thoát). Với người lớn, dù một người cũng có thể hơn chúng đến hàng trăm, và có thể lập ra hoàn cảnh chỉ dạy cho chúng để trở thành một xã hội (Người tự tại giải thoát). Một người lớn trưởng thành, tự người đó đã có trong người một thế giới, vì có đầy đủ hiểu biết. (Ðó là vị Phật có đủ nguyện lực làm nên thế giới).

Ngoài cảnh tuyệt đẹp ở Cực Lạc, lại được tả, có nhiều loài chim hót múa, đặc biệt những lời hót ca đó là những bài pháp ca ngợi giáo pháp giải thoát của Như Lai. Tất nhiên, chúng ta hiểu ngay, loại chim đây không phải như các chú chim ở thế gian xuất hiện do nghiệp đọa tái sanh - chim đây (ở Cực Lạc) là phương tiện hóa hiện dệt nên cảnh trí tuyệt vời của giải thoát, mà như Phật đã phá nghi cho Ngài Xá Lợi Phất: "Này Xá Lợi Phất! Ông chớ cho rằng, những giống chim này thật do tội báo mà bị sanh ra. Tại vì sao thế?

- Vì cõi Phật ấy không ba đường ác.

- Này Xá Lợi Phất! Cõi nước Phật kia, còn không có ba đường ác thay, huống là có thật. Các giống chim đó đều là biến hóa, chúng đều do đức Phật A Di Ðà, vì Ngài muốn cho tiếng diễn nói pháp, lan khắp các nơi, nên biến hóa ra.


(Xá Lợi Phất, nhữ vật vị thử điểu thiệt thị tội báo sở sinh. Sở dĩ giả hà? Bỉ Phật quốc độ vô tam ác đạo chi danh hà huống hữu thiệt. Thị chư chúng điểu giai thị A Di Ðà Phật dục linh Pháp âm tuyên lưu biến hóa sở tác).

Hòa theo tiếng chim nói pháp, còn có gió thổi phát vào các hàng cây báu, những hàng lưới ngọc, tạo nên vô số âm thanh nhạc điệu nhiệm mầu, khiến tạo phương tiện phát khởi Bồ Ðề Tâm.

- Xá Lợi Phất! Cõi nước Phật ấy gió nhẹ thổi động những hàng cây báu và những lưới báu, thì cây và lưới vang tiếng nhiệm mầu cũng ví dụ như trăm ngàn thứ nhạc cùng lúc hòa tấu, người nghe tiếng này, tự nhiên sanh tâm niệm Phật, Pháp, Tăng.

(Xá Lợi Phất, bỉ Phật quốc độ, vi phong xuy động, chư bảo hàng thọ, cập bảo la võng xuất vi diệu âm, thí như bách thiên chủng nhạc đồng thời cu tác; văn thị âm giả, tự nhiên giai sinh niệm Phật, niệm Pháp, niệm tăng chi tâm).

Những bài pháp được các loài chim phát ra như kinh nói: Ngũ căn, Ngũ lực, Thất Bồ đề phận, bát Thánh đạo phận và nhiều pháp khác.

Ðây là các pháp nằm trong phần Ðạo (37 phẩm trợ đạo)(3) của Tứ Diệu Ðế (Khổ, Tập, Diệt, Ðạo), vốn thật quan trọng và căn bản trên bước đường tu. Mỗi pháp, nếu y theo thực hành tinh tấn đủ đưa hành giả an tâm vào con đường giải thoát.

Ở đây có thể thấy, dù lý tưởng thực hiện được thế giới Cực Lạc qua sự kiện khó nghĩ bàn, nhưng phần nhiệm mầu chim nói pháp, gió hòa vui Tam Bảo lại khai ra con đường hành đạo thiết thực, cụ thể ở thế gian đó là ba mươi bảy phẩm trợ đạo.

Tiếp theo Phật dạy, "Phật kia vì sao danh hiệu của ngài là A Di Ðà?" (Bỉ Phật hà cố hiệu A Di Ðà?) và rồi giải thích, "Bởi vì quang minh (ánh sáng rực rỡ) của đức Phật ấy không có hạn lượng, soi các cõi nước ở khắp mười phương, không bị chướng ngại, cho nên hiệu Ngài là A Di Ðà" (Bỉ Phật quang minh vô lượng, chiếu thập phương quốc vô sở chướng ngại, thị cố hiệu vi A Di Ðà).

Nên hiểu, đã là Phật thì vô cùng diệu dụng trang nghiêm sáng lạn không thể nghĩ bàn được, tuy vậy phần thị hiện độ sanh mỗi vị Phật có thể mỗi nguyện lực khác nhau. Như Phật Thích Ca thị hiện vào thế giới nhiễm ô này để độ chúng sanh, và đức A Di Ðà lập nên quốc độ tiếp dẫn người vãng sanh. Lại còn không ít chư Phật, vì nguyện lực phương tiện gần gũi chúng sanh, mà cứ mãi hành nguyện như hạnh nguyện Bồ Tát. Cho nên chúng ta chỉ hiểu nơi đây, Phật tán thán nguyện lực của Phật A Di Ðà, chứ chư Phật mười phương cũng không gì khác. Hơn nữa Phật đang giảng dạy về cõi Cực Lạc Tây phương thì Ngài phải dạy riêng như vậy.

Ðến đây Phật nói, dân chúng ở cõi Cực Lạc. Việc khó tưởng là, "Thọ mạng Phật ấy và nhơn dân Ngài, lâu dài đến số vô lượng vô biên a tăng kỳ kiếp..." (Bỉ Phật thọ mệnh, cập kỳ nhân dân vô lượng vô biên a tăng kỳ kiếp...)

Thọ mệnh của Phật A Di Ðà lâu là đương nhiên, nhưng người dân ở đó cũng lâu như ngài quả thật là một điều huyền diệu không tưởng.

Nhận xét mà thấy mỗi một thế giới, sự hiện hữu của các chúng sanh hẳn phải khác nhau. Chúng sanh mang tình thức cao, thấp ra sao sẽ có lối sống thích hợp tương xứng.

Không thể lấy hiểu biết ở thế giới nào đó hội nhập vào thế giới kia và ngược lại.

Người (tạm gọi) sinh ra ở thế giới Cực lạc là do hóa sanh, hóa sanh từ hoa sen. Quả của hóa sanh vào liên đài do nhân phát Bồ Ðề tâm cầu được vãng sanh, gặp Phật thành đạo độ chúng sanh. Do tâm nguyện vậy kết nên giác thức biến hiện, chiêu cảm hòa nhập vào Từ quang là ánh sáng chân thức của Phật, thành ra trong khoảnh khắc bỏ xác thân liền thấy Phật cùng chư Thánh chúng hiện ra tiếp đón. Ðó tạm gọi chuyển mạng thân thành thức thân đi vào thế giới thanh tịnh.

Người thường, không hiểu, không tu trì, chẳng chuyển được gì cả; mạng thân mất đi vẫn nguyên vẹn tái tạo mạng thân khác, và kết quả của mạng thân mới là do nghiệp lực dẫn vào. Chúng ta xuất hiện thế giới này, do thai sanh; thai sanh là quả của nhân ái dục, nên ô nhiễm uế trược thành ra xác thân cục mịch thô phù(4) và tất nhiên tuổi thọ khác xa với các vị ở thế giới Cực Lạc, bằng sắc thân trong sáng như kim cương.

Ngay chính Phật Thích Ca Ngài đã giải thoát hoàn toàn, đã thanh tịnh thân tâm tuyệt đối, đã không khác chư Phật mười phương, nhưng với thế giới gồ ghề uế trược Ta Bà, thân phương tiện của Phật cũng phải già nua và cuối cùng không trụ thế được nữa.

Tuổi thọ Ngài ra đi cũng phải hợp theo kiếp số chu kỳ con người, mà không thể sống thọ như các bậc thượng nhân ở cõi Cực Lạc. Do đó ta thấy, Phật Thích Ca thọ tuổi như con người Ta Bà, và cũng thế, dân chúng Cực Lạc tuổi thọ như Phật A Di Ðà không khác.

Nhưng nếu hỏi, người ở Cực Lạc chưa thành Phật làm sao ngang tuổi thọ với một vị Phật?

Ta có thể biết, vì ngay khi hóa thân từ hoa sen đi vào cõi Phật, họ đã chắc chắn thành Phật tương lai, như Phật Thích Ca thường dạy "Ta là Phật đã thành các ngươi là Phật sẽ thành". Lại xin lưu ý, nói đức Phật Thích Ca tuổi thọ như con người là nói theo thế gian, trụ sắc tướng vô thường chớ đã là Phật thì bất cứ điều gì cũng không thể nghĩ bàn được. Trong kinh Niết Bàn xác nhận điều này như sau:

"Ca Diếp! Ông chẳng nên ở nơi Như Lai có quan niệm là diệt tận.

Nầy Ca Diếp! Nếu có Tỳ Kheo, Tỳ Kheo Ni, Ưu Bà Tắc, Ưu Bà Di, nhẫn đến ngoại đạo ngũ thông thần tiên, hạng được tự tại, hoặc sống một kiếp hay ít hơn, ở giữa hư không đi đứng nằm ngồi tự tại, nách tả phun lửa, nách hữu vọt nước, thân tuôn khói lửa, nếu muốn sống lâu thời được như ý muốn. Ðối với mạng sống, hoặc dài hoặc ngắn đều tự tại. Người được ngũ thông còn đặng thần lực tùy ý như vậy, huống là Như Lai đặng sức tự tại đối với tất cả pháp, mà lại không thể ở đời hoặc nửa kiếp, hoặc một hai kiếp, hoặc trăm ngàn kiếp, hoặc vô lượng kiếp sao? Vì những nghĩa ấy phải biết rằng Như Lai là pháp thường trụ chẳng biến đổi. Thân của Như Lai đây là thân biến hóa chẳng phải thân tạp thực. Vì độ chúng sanh nên thị hiện đồng với chúng. Vì vậy nên thị hiện bỏ thân mà nhập Niết bàn
(5).

Vậy kết luận rằng, người dân ở Cực Lạc nhứt định thành Phật không sai, nên mới đồng mệnh tuổi thọ với Ngài.

GHI CHÚ:

(1) Kinh Phật Thuyết A Di Ðà Yếu Giải - Sa môn Trí Húc (Ngẫu Ích) giải thích những nghĩa thiết yếu trong kinh - Bồ Tát Giới Tuệ Nhuận dịch.

(2) 10 x 10,000 x 100,000 = 10,000,000,000.

(3) Ba mươi bảy Phẩm trợ đạo: Gồm bảy thành Phần: Tứ Niệm Xứ, Tứ Chánh Cần, Tứ Như Ý Túc, Ngũ Căn, Ngũ Lực, Thất Bồ Ðề Phần và Bát Chánh Ðạo, tất cả cộng lại là 37 phẩm.

Xin xem thêm Phật Học Phổ thông, của Hòa Thượng Thích Thiện Hoa.

- Ngươi viết tập sách này, cũng đã lược qua việc niệm Phật theo 37 phẩm trợ đạo trong tác phẩm "Hương thơm niệm Phật", đọc giả có thể tham khảo thêm.

(4) Thô phù: tướng căn bên ngoài của con người hợp theo trần cảnh ô nhiễm.

(5) Kinh Ðại Bát Niết Bàn - Phẩm Trường Thọ, HT. Thích Trí Tịnh dịch.
Nam Mô A Di Đà Phật
Hình ảnh
Hình đại diện của thành viên
battinh
 
Bài viết: 3737
Ngày tham gia: Thứ 2, 14/11/11 10:58 pm
Đã cảm ơn: 51 lần
Đã được cảm ơn: 305 lần
Giới tính: Nam
Đến từ: Tứ Đại

Re: Vượt luân hồi vào Tịnh Độ

Gửi bàigửi bởi battinh » Thứ 4, 12/12/12 9:12 pm

- "Phật A Di Ðà thành Phật đến nay đã mười kiếp" (A Di Ðà Phật thành Phật dĩ lai, ư kim thập kiếp). Ðức Phật dạy rõ như vậy, cho chúng ta hiểu một sự thật rằng, Phật A Di Ðà đang là giáo chủ ở đó (Cực Lạc).

Ghi nhận sự thật này đủ làm nền tảng không thoái chuyển cho việc nguyện sanh về thế giới kia. Riêng vấn đề kiếp số, ta chỉ tạm hiểu ít phần để biết phước báo công đức của hai cõi, Ta Bà và Tịnh Ðộ Tây phương chênh lệch khó tưởng. Theo Phật học ước tính, một tiểu kiếp là mười sáu triệu tám trăm ngàn năm,(16.800.000)(6) nhưng tuổi thọ của người dân Cực Lạc cùng với Phật A Di Ðà là vô lượng vô biên kiếp; vậy nên không cần phải suy tính, mà chỉ hiểu rằng phước báo công đức không thể nghĩ bàn được.

- Này Xá Lợi Phất! Ðức Phật ấy có vô lượng vô biên đệ tử Thanh Văn toàn A La Hán, chẳng phải tính toán mà có thể biết số Thanh Văn ấy, các chúng Bồ tát lại cũng như thế. (Bỉ Phật hữu vô lượng vô biên Thanh văn đệ tử giai A La Hán phi thị toán số chi sở năng tri, chư Bồ Tát chúng diệc phục như thị).

Ðoạn này nhấn mạnh, người sanh Cực Lạc có đủ chúng hội, chứ không phải người ta thường nghĩ chỉ là hạng căn cơ thấp, nương nhờ Phật lực. Lại biết, tất cả chúng đệ tử của Ngài đều lấy Bồ Ðề tâm xây dựng tâm cảnh của mình, nên dù gọi Thanh Văn, Bồ Tát vẫn là tâm nguyện chung hằng mong cầu quả Phật trọn độ chúng sanh. Từ tâm Bồ Ðề vậy, các vị đều là bậc bất thối chuyển, do đó Phật dạy "... chúng sanh sanh về, đều là những bậc không còn thoái chuyển" (chúng sanh sanh giả giai thị A Bệ Bát trí).

Hành giả tu niệm Phật tức liền đã tích lũy vào mình tâm nguyện tha thiết độ sanh, bởi khi sinh sang cõi kia dù là bậc hạ phẩm thấp nhất cũng trở thành bất thoái chuyển.

Ðiều này, ngay tại quốc độ uế trược không thể tin, người niệm Phật đang mang tâm Bồ Ðề cao lớn như thế; vì thứ nhất, niệm Phật không hiện công phu khó khăn; thứ hai, người niệm Phật lại toàn đa số các cụ già, hay các sư thầy đang trong tuổi của vô thường kề cận.

Nhưng lời Phật dạy không bao giờ sai, cận tử nghiệp nói lên được một người chuẩn bị đi vào cõi sống khác.

Tuy nhiên cũng cần nhận định rõ thêm; một người chưa bao giờ niệm Phật, không bao giờ mở được một tiếng Phật ngay phút lâm sàng (Hiện rõ giờ phút đau đớn trên giường bệnh). Thậm chí có người đã là Phật tử đã biết đi chùa lễ Phật đã xem kinh cũng nhiều, vẫn tin Pháp môn niệm Phật, nhưng giờ lâm chung chẳng thể niệm được một câu. Không phải hoàn toàn do bệnh gây ra đau đớn niệm không được, mà phần lớn không đủ niềm tin, không đủ quyết tâm cầu Phật lực; lại do đương sự không tự lực tầm kiếm nên không đủ nhân duyên. Nhưng hơn nữa, có người đã tin niệm Phật, có thực hành, ấy vậy khi mất không hiện tướng vãng sanh; dù ít ra cũng hiện vài điều an bình khi ra đi, ngược lại không một dấu hiệu chi! Chính vài điểm này, người niệm Phật hay ái ngại có được sanh về nước Phật không!

Khi thần thức thoát ra từ ngũ uẩn hư hoại, việc còn lại phủ quanh thần thức là nghiệp lực; thần thức sẽ mất thăng bằng khi không có lực khác hướng dẫn ngoài lực chính mình chiêu cảm ra. Ví như lạc vào hoang đão không một bóng người, việc sinh tồn chỉ còn trông vào khả năng đương sự; nếu đương sự chỉ là người từ nhỏ đến lớn sống bằng sự nuôi nấng chăm lo của người khác, tất nhiên sẽ chết mất trong vài ngày. Nếu đương sự là người bươn trải lăn lóc kinh nghiệm cuộc đời, bằng kiến thức thực tế học đường, xã hội, chắc chắn đương sự kéo dài được mạng sống và có thể được người tìm ra cứu nguy.

Ðược sanh vào thế giới Phật, nghiệp thiện không chưa đủ, vì có thuần thiện cũng chỉ gieo duyên ở cảnh trời hay cảnh người giàu sang phú quý. Hẳn nhiên niệm Phật không ai lại mong làm người giàu sang, hoặc sanh cõi trời hưởng lạc. Vậy thần thức sẽ xuôi về ánh sáng do chính nghiệp của mình tạo ra, và nếu trong lúc sắp bỏ thân đi, câu niệm Phật sẽ theo thần thức tạo ra ánh sáng dịu dàng đượm màu giải thoát, từ đây chiêu cảm với ánh sáng Phật và Thánh chúng, nên nhẹ nhàng buông bỏ tất cả.

Ðó là tự lực niệm Phật của mình chiêu cảm vào thế giới Phật, chớ không phải Phật và Thánh chúng chỉ hiện ra với người thiện và không bao giờ đến với người ác. Nếu quả thiệt vậy Phật đâu có từ bi! Tất cả là do chính chúng ta quyết định, chuyển vọng thành chân, chuyển mê ra ngộ, chuyển thức thành trí. Do thế câu niệm Phật thật quan trọng ngay khi sắp lìa xác thân, chuẩn bị sáng suốt đi tìm ánh sáng của Phật và chư Thánh chúng. Và dù bên ngoài đôi khi mục kích không hiện tướng lành ra đi, nhưng bên trong của thân xác đó đã được an tâm qua danh hiệu Phật, vì thần thức bấy giờ rất tinh nhuệ có thể ghi nhận hết những diễn tiến linh hoạt chung quanh, do đó ta không thể tuyệt đối căn cứ bên ngoài, mà đánh giá, hay bỏ lỡ cơ hội trợ giúp hộ niệm cho người.

Việc nữa nếu khăng khăng chấp chặt phải hiện tướng vãng sanh, thì khi trường hợp tai nạn bất thần, làm sao niệm Phật!

Thời Phật tại thế, đệ tử ngài cũng đưa ra câu hỏi như vậy. Và ngài đáp lại bằng tỉ dụ - có một loại cây, khi lớn thân nó có khuynh hướng nghiêng về một bên, vì nghiêng như vậy nên gặp gió bão thổi vào, bất cứ hướng nào nó sẽ chắc chắn chỉ ngã về hướng đã nghiêng. Ðiều này ví người có tu hành khi chết biết được nơi mình ra đi; ngược lại thân cây đứng thẳng, ví người không tu, nó sẽ bị ngã bất cứ hướng nào mà không lường biết được.

Như thế điều chuẩn bị thực tế, hãy tạo cho tâm thức ta có khuynh hướng nghiêng ngã về một bên như tỉ dụ trên, tức hãy niệm Phật khi thân xác còn khoẻ mạnh; được vậy việc chứng kiến cảnh người biết niệm Phật ra đi thế nào sẽ không còn lo lắng nữa.

Ngược lại ra đi trông thấy nhẹ nhàng, nhưng không câu niệm Phật thì không thể đi vào thế giới Phật; chỉ trừ các bậc Bồ Tát với tâm nguyện trở lại độ sanh, hay các vị đã nhuần tâm đại bi gần như tâm Phật nên chẳng ngại thế giới nào, để rồi mục tiêu cũng trở về cõi Phật. Ngoài ra tất cả đều lọt vào quả báo hữu lậu, ở cõi trời, người, mà sau này không chừng lại là nhân khổ cho quả tương lai.

Phật cho biết với số lượng các bậc Bất thối chuyển, trong đó lại có nhiều vị Nhứt sinh Bổ xứ sanh sang cõi Cực Lạc thật không thể kể được. "Cõi nước Cực Lạc, chúng sanh sanh về, đều là những bậc không còn thoái chuyển, trong ấy có nhiều vị đại Bồ Tát Nhứt sanh bổ xứ, số này rất đông, chẳng phải tính đếm mà biết cho hết. Chỉ có thể dùng con số vô lượng vô biên a tăng kỳ để nói mà thôi". (Cực Lạc quốc độ chúng sinh sinh giả, giai thị A Bệ Bạt Trí, kỳ trung đa hữu Nhất sinh Bổ xứ, Kỳ số thậm đa, phi thị toán số sở năng tri chi đản khả dĩ vô lượng vô biên a tăng kỳ thuyết).

Các vị Nhứt sinh bổ xứ, tại nơi Cực Lạc này các ngài sẽ được thành Phật mà không cần phải sinh lại bất kỳ nơi đâu nữa (nhứt sinh), vậy đây là nơi các ngài sanh đến để làm Phật.

Cũng hiểu rằng, riêng các thượng nhân khác dù sanh ở hạ phẩm cũng vẫn thành Phật tương lai, tuy nhiên thời gian thành đạo so với các vị Nhứt sinh có phần chậm hơn.

Một vị Phật xuất hiện vào một thế giới, quả thật hiếm, khó vô cùng, như Phật Thích Ca thị hiện vào Ta Bà đến nay đã hơn hai ngàn sáu trăm năm; thời gian này đối với cõi trời và thế giới Bồ Tát thì thật ngắn, nhưng đối với chúng ta quả thật dài. Nhưng nếu chờ vị Phật tương lai xuất hiện, kinh sách nói có thể cả triệu năm nữa!! Ðây cũng chỉ ức đoán thôi, tuy nhiên điều chắc chắn, khi nào không còn một lời kinh tiếng kệ của Phật hiện tại, Phật tương lai mới xuất hiện để quay lại chu kỳ độ khổ chúng sanh. Chừng ấy, không biết chúng ta sẽ là chúng sanh gì, và sanh ở đâu nếu như không tu! Và tu mà không sanh vào thế giới Phật thì biết đâu ta lại trải qua, vượt qua thời Phật tương lai đến 2600 năm, rồi lại thở than rằng bất hạnh sống đời mạt pháp y như ngày hôm nay! Ôi thật sợ, sợ lắm!

Biết rằng, quả thật hy hữu sanh được thời còn giáo lý giải thoát, vậy mà ở Cực Lạc số Phật tương lai (tương lai thật gần và chắc chắn) nhiều không thể nghĩ bàn; nếu sanh được về đó, ta sẽ may mắn dễ dàng gặp các Ngài, lại còn may mắn làm bạn nữa "các vị Bồ Tát bạn lành với ta". Rồi mặc sức mà chọn một vị làm bạn thân! Ðể khi vị ấy thành Phật chúng ta sẽ là những đệ tử đắc đạo bên ngài như các đại đệ tử A Nan, Ca Diếp... của Phật Thích Ca vậy.

Thật ra ngay khi có mặt ở Cực Lạc, tất cả sẽ là Phật trong tương lai thật gần, vì thắng duyên đã đầy đủ, chỉ có vấn đề chờ thời gian tròn đủ phẩm hạnh, để hiện vai trò chư Phật, độ hóa chúng sanh.

Vì sao biết được sinh ở Cực Lạc tương lai chắc chắn thành Phật? Vì Phật Thích Ca dạy, các vị thượng thiện nhơn ở Cực Lạc, trong đó có nhiều vị nhứt sinh bổ xứ; Nhứt sinh bổ xứ, có nghĩa một vị Bồ Tát đã đầy đủ phẩm hạnh sẽ được thọ ký lên ngôi Phật, từ đó tùy duyên thị hiện vào một thế giới nào đó độ chúng sanh. Và quả vị Nhứt sinh bổ xứ vậy chỉ là lần lượt mọi người dân ở Cực Lạc sẽ đi đến mà không bao giờ thối lui. Cho nên các vị thượng thiện nhơn, còn được gọi là Bất thoái Bồ Tát.

Ý nghĩa và hành động của Bất thoái, thật quan trọng thiết yếu trong việc tu hành dù ở bất cứ thế giới nào. Ngay thế giới Cực Lạc, các vị Bồ Tát trong tâm nguyện thành đạo cũng phải nương gần với nhau để tròn đủ Bồ Ðề Tâm, để được bất thoái; và hẳn mọi nơi thế giới, Bồ Tát cũng phải mong cầu thỉnh Phật lưu trú mới được trọn phần viên mãn chứng đạo giải thoát - nếu như không thể thỉnh Phật được, phải tìm cách đi đến chỗ Phật mà trang nghiêm thêm phẩm hạnh của mình. Bằng chứng kinh Vô Lượng Thọ Phật dạy: "Chẳng những ở cõi ta, mà các cõi khác cũng đều có các Bồ Tát vãng sinh sang cõi Cực Lạc".

Phật còn kể ra danh hiệu mười ba cõi Phật, nơi có các Bồ Tát vãng sanh sang Cực Lạc như: Cõi Phật Viên Chiếu, Phật Bảo Tạng, Phật Vô Lượng Âm, Phật Cam Lộ Vị, Phật Long Thắng, Phật Thắng Lực, Phật Sư Tử, Phật Li Cấu Quang, Phật Ðức Thủ, Phật Diệu Ðức, Phật Nhân Vương, Phật Thượng Hoa và Phật Vô Úy.

Cụ thể sự thật này là Phật nói rõ số lượng Bồ Tát bao nhiêu ở mỗi cõi được vãng sanh. Và trong mười bốn cõi (tính luôn cõi Ta Bà), thì hai cõi Phật Vô Thượng Hoa, và Phật Vô Úy, được tả nhiều nhất.

Phật lại dạy thêm: "Chẳng những chỉ có các vị Bồ Tát trong mười bốn cõi Phật ấy được vãng sinh, mà còn rất nhiều Bồ Tát ở mười phương thế giới cõi Phật số được vãng sinh, cũng nhiều như vậy. Nay ta chỉ nói lược danh hiệu chư Phật mười phương và các Bồ Tát, Tỉ Khưu, được sinh sang cõi ấy. Nếu nói rộng ra, thì suốt đêm ngày, trong cả một kiếp, cũng không thể hết được"(7).

Sự có mặt của đấng toàn giác (Phật) mới chắc chắn dễ dàng làm cho hành giả giữ được Bồ Ðề Tâm bất thoái. Thời Phật Thích Ca tại thế, các đệ tử luôn luôn tìm cách gần Ngài, cho dù chỉ nhìn thôi cũng thấy "ấm lòng", đây không nói riêng các vị chưa đắc quả Thánh, mà hết thảy, từ người mới vào đạo đến các trưởng lão với quả Vô sanh (A La Hán). Do thế, khi nghe tin Phật tuyên bố sẽ vào Niết Bàn, một số đệ tử đã sám hối Ngài, xin xả thân trước, vì không chịu đựng nổi, còn sống mà thiếu vắng Ngài!

Nhưng tại sao các đệ tử lớn của Phật, kể cả chư Bồ Tát đã hiểu được sanh tử, đã lãnh hội được chân lý Phật dạy và thực tế với quả vị chứng đắc đã cao, lại phải luôn luôn muốn gần Phật?

Câu trả lời đơn giản, vì các ngài muốn thành Phật cho mau mà thôi! Các ngài muốn được nghe, từ kim ngôn Phật thọ ký xác nhận rằng, địa vị các ngài sẽ thành Phật, dù dư biết các ngài sẽ thành Phật tương lai. Hay nói đúng hơn các ngài vẫn luôn luôn tự cho các ngài không đáng gì cả, để khi gần gũi Phật mới thực tế học được điều Phật dạy. Và có lẽ đúng hơn nữa, là chỉ có quả vị Phật mới độ được mọi chướng duyên nghịch, thuận của chúng sanh, cho nên lý do đó mà các bậc Bồ Tát muốn thành Phật sớm - lại cộng thêm Bồ Ðề Tâm quá mạnh. Chứ không phải phàm phu chúng ta tưởng, rằng các bậc Bồ Tát lại còn sợ lo cho mình không thành Phật!

Thế nhưng vẫn có trường hợp lo sợ chính mình lâu thành Phật, nên các ngài phải mong gần Phật, để sanh vào thế giới chỉ có tiến chớ không lui, như là thế giới Cực Lạc vậy.

Bây giờ xét lại thế giới chúng ta hiện thời; nếu muốn được tâm tu bất thoái phải làm thế nào; trong khi Phật Thích Ca đã tịch hơn hai ngàn sáu trăm năm, và chư Thánh Tăng, Bồ Tát cũng không còn nữa - nếu có thì không biết các ngài ngụ ở đâu! Khó tìm hơn, các ngài lại không tự cho mình là Thánh, nên đã khó lại gặp khó thêm!

Âu vẫn còn duyên lành cho ta, đó là lời Phật trong kinh, và giới luật làm nền tảng học Phật. Vậy ta chỉ có thể trở thành tinh tấn học Phật qua việc, ôn đi ôn lại lời Phật dạy, và nhiếp tâm hằng sống với tâm niệm cầu sanh về nơi nào có đủ thắng duyên gặp Phật.

Ta phải dùng thân cầu thấy Phật bằng cách gần đạo tràng lễ Phật đọc kinh, và dùng tâm để cầu sanh đất Phật, là hằng tưởng niệm Phật mong được sanh về Cực Lạc. Ðó là điều cơ bản để giữ được tinh tấn, cũng là phần tạo cho ta không thối lui trước nghịch cảnh đang bủa vây trong đời.

- Xá Lợi Phất! Chúng sanh được nghe, hãy nên phát nguyện, nguyện sanh nước ấy. Tại vì sao vậy? - Vì được cùng với các bậc Thánh chúng thượng thiện như thế sum họp một chỗ. (Xá Lợi Phất chúng sanh văn giả, ưng đương phát nguyện, nguyện sanh bỉ quốc. Sở dĩ giả hà? Ðắc dữ như thị chư Thượng thiện nhơn câu hội nhất xứ).

Rõ ràng là lời từ bi thương xót chúng sanh đang chìm đắm trong bể khổ, nên Phật khuyên ngay, rằng khi nghe, nên phát nguyện sanh về Cực Lạc. Rồi tiếp nói nguyên do, để người muốn sanh, hiểu được tại sao phải sinh sang nước đó. Hỏi và tự trả lời của Phật, nhấn mạnh cho người còn nghi ngờ, nhất là những người cảm thấy mình tội lỗi, nghiệp ác sâu dày làm sao sanh được vào nơi trang nghiêm thanh tịnh!

Phật nói: Vì được cùng với các bậc Thánh chúng thượng thiện như thế sum họp một chỗ. Phần trên đã có đề cập là số lượng chư vị Bồ Tát nhiều vô số, mặc sức mà ta tìm làm bạn; đến đây đoạn này thấy rõ, ta sẽ cùng chư Thượng thiện nhơn sống chung một nơi. Ðã sống chung một nơi lo gì không ảnh hưởng!

Ðời nay người tu, mà được sống gần một vị Thánh thì quá sung sướng! Chẳng hạn hiện thời thế giới chúng ta có ngài Ðạt Lai Lạt Ma thứ mười bốn, ngài là vị Thánh Tăng sống thật đối với dân tộc Tây Tạng, nhưng lại vượt không gian quốc thổ, sắc tộc của Ngài, để được mọi người hầu như công nhận Ngài thật dễ thương đáng kính. Bằng chứng cụ thể, những buổi thuyết giảng của ngài số người tham dự đến nghe, thường vượt khỏi con số mười ngàn; đặc biệt thính giả tham dự đó, tất cả đều chẳng màng gì tôn giáo! Bởi vì họ chỉ đến nghe một Thánh Tăng nói ra một chân lý!

Việc này thế giới ngày nay, chưa thấy có người thứ hai nào, có sức thu hút như ngài. Nhưng ngài nói Chân lý gì? Chân lý tình thương và giải thoát. Và tình thương giải thoát đó chỉ là lời Phật dạy, mà ngài đã biểu thị được một nhân cách của bậc đáng yêu, để người ta phải gọi ngài là Thánh.

Thế thì thế giới Ta Bà hiện nay, chỉ xuất hiện không quá hơn một vị Thánh; (đây không kể thêm, chắc chắn còn có các bậc Thánh khác ẩn tu đâu đó chưa xuất hiện) mà con người đôi lúc cảm nhận thấp thoáng niềm vui, vậy thử hỏi được sống trong một đất nước toàn dân đều như Ngài Ðạt Lai Lạt Ma thứ XIV, thì niềm vui sẽ thế nào!

Nhưng nơi Cực Lạc, Phật dạy toàn các bậc Thượng Thiện nhơn! Ta hiểu điều này hẳn là sự thật, chứ không phải hoang đường, vì ít ra nơi đây, nơi Ta Bà uế trược này đã có Thánh sống.

Nếu như lại tưởng, ta khó hòa nhập nơi đất Thánh, thì kinh đã dạy "Phàm Thánh đồng cư". Nơi đó không có phân biệt, kỳ thị, chỉ là sự dìu dắt tất cả hòa vào dòng suối thanh lương tươi mát của dòng Pháp vị giải thoát mà thôi.

Người mới vào, tâm còn thô, nhìn người khác với tâm thức nhẹ nhàng, thì tâm thô chuyển thành nhẹ. Người tâm không quá thô, cũng chưa thanh nhẹ lắm, nhìn chư Thánh Bồ Tát lại mau hóa thành tâm nhu nhuyển, siêu nhiên; cuối cùng tất cả là sự thị hiện từ bi để nâng đở hòa vào từ thô đến tế.

GHI CHÚ:

(6) 16.800.000 năm gọi là một tiểu kiếp, được tính từ Giảm Kiếp thấp nhất là 10 tuổi và cách 100 năm tăng lên một tuổi, cho đến cao nhất của Tăng Kiếp là 84.000 năm (tuổi). Xem thêm Phật Học Từ Ðiển Ðoàn Trung Còn.

(7) Kinh Vô Lượng Thọ - Quyển hạ, Dịch giả Hòa Thượng Thích Tuệ Ðăng.
Nam Mô A Di Đà Phật
Hình ảnh
Hình đại diện của thành viên
battinh
 
Bài viết: 3737
Ngày tham gia: Thứ 2, 14/11/11 10:58 pm
Đã cảm ơn: 51 lần
Đã được cảm ơn: 305 lần
Giới tính: Nam
Đến từ: Tứ Đại

Re: Vượt luân hồi vào Tịnh Độ

Gửi bàigửi bởi battinh » Thứ 5, 13/12/12 9:34 am

- "Xá Lợi Phất! Chẳng thể dùng một nhân duyên, phước đức, căn lành nhỏ ít được sanh nước đó". (Xá Lợi Phất, bất khả dĩ thiểu thiện căn phúc đức nhân duyên, đắc sinh bỉ quốc).

Ðây Phật dạy được sinh về Cực Lạc không phải là dễ! Vậy có nghĩa chỉ niệm Phật không thôi chưa chắc đã đủ công đức; phải còn những điều kiện khác và điều kiện đó là làm sao cho có nhiều công đức, hay thế nào cho đúng ý nghĩa công đức mới được. Nếu niệm Phật mà chỉ lo cho mình, chưa bao giờ móng khởi tâm độ người khác thì khó thể vãng sanh. Tuy nhiên vẫn có công đức, nhưng việc được vãng sinh phải mất thời gian thật lâu xa, khi phải xoay vần theo phước báo hữu lậu, do chủng tử niệm Phật hóa thành nhân duyên phước báo trong đời tương lai.

Chúng ta hiểu rằng, một người sinh ra đời gặp Phật pháp, rồi tin nhận giáo lý đại thừa; tin có thế giới Phật, và nguyện được sinh sang không phải việc dễ! Bởi số lượng tu theo Phật thật đông nhưng thật tin Pháp tha lực, được Phật tiếp dẫn về Tịnh độ (đất Phật) thì chắc không nhiều.

Ðó là nói theo đúng nghĩa của thật tin, vì chúng ta đã chẳng thấy nhiều người tự tại vãng sanh, trong khi vẫn đang tu theo pháp tu niệm Phật. Vậy, vì không đủ niềm tin kiên cố, nên khi mất đi sẽ khó vãng sanh - một số có lẽ sanh về cảnh trời và một số lại trở về cảnh người hưởng phước.

Số vào cảnh người chắc chắn may mắn hơn vì không quá sung sướng như cảnh trời, nên chủng tử của kiếp vừa rồi còn đó, đủ khơi dậy dẫn họ vào Phật pháp.

Một số sanh cảnh người lại lặn lội trong việc nghiên cứu, nhưng cuối cùng cũng quay về pháp tu niệm Phật, do duyên đã niệm Phật kiếp trước; cứ như thế họ giữ được nền tảng Phật chất mãi trong kiếp sống, và mãi mãi cho đến khi niềm tin kiên cố chín muồi, bấy giờ niệm Phật sẽ đi ngay vào thế giới Phật.

Thời gian để được niềm tin kiên cố lâu mau không thể biết được, nhưng bao giờ chưa thật tin để thực hành theo niềm tin kiên cố, thì vẫn còn quay mãi trong vòng luân hồi của trời, người, hay tệ hơn lạc vào thế giới thấp khác.

Cũng chẳng nghi ngờ gì, tại sao biết Phật pháp lại đi lạc vào thế giới thấp khác! Vì có khi vừa tạo thiện lại đi đôi với việc ác mà không hay biết!

Còn trong cõi trược, còn mang thân phàm, còn đầy dục tình, còn đủ vọng tưởng... làm sao tránh không tạo nghiệp! Chúng ta ắt tin rằng dưới địa ngục vẫn có nhiều hạng chúng sanh, và không thể không có những chúng sanh cũng một thời là đạo sĩ! Tất cả đều do nghiệp thức thiện ác mà ra.

Ngoài niệm Phật kiên cố rồi, hành giả tự chu toàn các duyên thiện đức như lời Phật dạy trong kinh Quán Vô Lượng Thọ: "Muốn sanh về cõi ấy, phải tu ba thứ phước:

1. Hiếu dưỡng cha mẹ, phụng thờ sư trưởng, giữ lòng từ bi không giết hại, tu mười nghiệp lành

2. Thọ trì tam quy, giữ trọn các giới, đừng phạm oai nghi.

3. Phát lòng Bồ Ðề tin sâu lý nhân quả, đọc tụng kinh đại thừa, khuyến tấn người tu hành.
Ba điều như thế, gọi là tịnh nghiệp"
.

Ðược như thế đã đủ thiện căn phúc đức, nhưng đây không phải việc dễ chu toàn; đó mới thấy không thể đơn giản sanh vào thế giới Phật.

Tuy vậy, thực hành niệm Phật vẫn nên một lòng kiên cố, giữ mãi niệm Phật trong tâm, các việc khác sẽ tự hoán chuyển, đó là điều mà chúng ta nghe Phật dạy tiếp sau: "Xá Lợi Phất! Nếu kẻ thiện nam, người thiện nữ nào, được nghe nói đến Phật A Di Ðà, rồi nhớ giữ lấy danh hiệu của Ngài, hoặc niệm một ngày, hoặc hai ngày, hoặc là ba ngày, hoặc là bốn ngày, hoặc là năm ngày, hoặc là sáu ngày, hoặc là bảy ngày, một lòng chẳng loạn thì kẻ thiện nam, người thiện nữ ấy lúc sắp lâm chung, Phật A Di Ðà và các Thánh chúng hiện trước người ấy. Kẻ sắp mất này lòng chẳng điên đảo, liền được vãng sanh cõi nước Cực Lạc của Phật A Di Ðà.

(Xá Lợi Phất, nhược hữu thiện nam tử, thiện nữ nhân, văn thuyết A Di Ðà Phật, chấp trì danh hiệu, nhược nhất nhật, nhược nhị nhật, nhược tam nhựt, nhược tứ nhựt, nhược ngũ nhựt, nhược lục nhật, nhược thất nhựt, nhất tâm bất loạn, kỳ nhân lâm mạng mệnh chung thời A Di Ðà Phật, dữ chư Thánh chúng, hiện tại kỳ tiền; thị nhân chung thời, tâm bất điên đảo, tức đắc vãng sinh A Di Ðà Phật Cực Lạc quốc độ).

Dù không thể lấy ít công đức được sinh sang cõi Phật, nhưng phần này Phật dạy chuyên niệm từ một ngày hoặc cho đến hai, ba, bốn cho tới bảy ngày, người đó tâm không loạn sẽ được vãng sanh. Chúng ta hiểu, pháp tu niệm Phật chủ yếu nhờ vào tha lực của Phật gia bị và tiếp dẫn, thì phần nhiếp tâm, niệm theo thời gian như vậy có thể nhấn mạnh vào lúc gần lâm chung. Hoặc nhằm trường hợp, hành giả niệm Phật phát Bồ Ðề tâm tha thiết, nên dụng công chí tử quyết về Cực Lạc ngay, do cảm nhận duyên sự thế gian đến lúc phải từ bỏ; và mong vãng sanh sớm để trở lại với thệ nguyện độ tha của mình. Chỉ trường hợp như thế thì dù một ngày, hành giả cũng được thấy Phật cùng chư Thánh chúng hiện đến tiếp dẫn, nên ra đi ngay tức thời mà không bệnh đau chi cả; đây là bậc thượng căn.

Lại suy ra, tùy căn cơ trung, hạ mà được vãng sanh trong thời gian một đến bảy ngày.

Nếu không phải do nhân duyên đầy đủ, hay nguyện lực công phu, hoặc căn cơ tùy thuận, thì dù niệm đủ 10 ngày đến 100 ngày hay mười năm cũng không phải dễ vãng sanh; và ngay việc cần người hộ niệm cho mình cũng còn thấy khó.

Riêng trường hợp sắp lâm chung, có thể dễ dàng hơn nhiều, vì đương sự biết mình sắp chết chỉ mong cầu vãng sanh, do vậy mà niệm tha thiết trong một ngày cho đến bảy ngày. Tuy nhiên trường hợp biết gần lâm chung mà niệm được từ một ngày hay đến bảy ngày, là do nhờ lúc bình thường khỏe mạnh đã thường niệm Phật; nếu không thì, kể cả biết mình sắp chết cũng khó niệm được nhất tâm đến một ngày, huống chi bảy ngày!

Hiện nay có lẽ khó thấy trường hợp không bệnh niệm Phật được tự tại ra đi.

Do đó mới hiểu Kinh nói không sai; và việc thực hành tu niệm là do tâm cảnh con người sai khác, chớ điều Phật dạy bao giờ cũng là chân lý.

Dù vậy ta vẫn thấy vui mừng, vì ngoài pháp tu niệm Phật ra các pháp tu khác không cầu tha lực Phật, thì hành giả đó phải nhất định là bậc thượng căn mới có thể tự tại ra đi vào cõi thanh tịnh - chẳng hạn như cõi sơ thiền đến tứ thiền là cõi sắc giới, hay cao hơn nữa là vô sắc giới như Phi tưởng phi phi tưởng Xứ.

Ðây thật khá cao, tuy vậy vẫn còn trong tam giới chưa thể liễu sinh tử.

Ở cõi cao nhất của Vô Sắc giới tâm thức hành giả đạt đến mức thật sâu trong niềm an lạc; nhưng vẫn chưa liễu triệt các pháp sinh diệt của bản thể nhất như, Niết Bàn của chư đại Bồ Tát và chư Phật nên vẫn bị xoay mòn theo luật vô thường nhân quả, thế là cảnh giới an lạc đó vẫn phải mất đi, và bị dội ngược lại để quả báo phải tìm học lại từ đầu!

Chứng minh này, trong kinh Thủy Sám có đoạn nhắc lại lời Phật dạy như sau: Phật bảo ông Tu Ðạt Ða: "Thầy ngươi là Uất Ðầu Lam Phất lợi căn sáng suốt, đã hàng phục được phiền não, đến cõi trời Phi phi tưởng rồi mà khi mệnh chung còn phải đọa vào đường súc sinh làm con phi ly, huống chi người khác"(8).

Còn như tự lực vượt qua được ba cõi, hành giả này phải là Bồ Tát tu lục độ (bố thí, trì giới, nhẫn nhục, tinh tấn, thiền đinh, trí huệ) vạn hạnh đến nhuần nhuyễn và theo đó đã đạt từng phần của Thập trụ(9). Vậy ra chỉ có bậc thượng căn mới có thể tự tại nhờ vào tha lực rất ít.

Thật ra, ai đã tu Phật lại không nhờ tha lực! Vì có ai không nhờ vào kinh Phật, mà thấy được tánh mình và tánh Phật là một (nhất thiết chúng sanh giai hữu Phật tánh); chính nhờ như vậy là nhờ vào tha lực.

Ta thử suy nghĩ vấn đề tha lực của Phật liên quan đến kinh điển!

Thật là huyền diệu khi kinh điển có thể dễ dàng tồn tại đến ngày nay, và huyền diệu hơn, ngay thời Phật còn tại thế, người ta đã chưa ghi chép gì, mãi tới khi Phật tịch.

Cho đến vài trăm năm sau, kinh Phật mới được ghi, và không ngờ ghi chép trọn vẹn chân lý của Phật, nhờ vậy người đời sau dù cách Phật cả ngàn năm, y theo kinh tu hành, đã liễu đạo chứng quả để lại bằng chứng nhiệm mầu cho nhân loại chứng kiến không phải là ít - như Lục Tổ Huệ Năng là một minh chứng tuyệt vời!

Như vậy có phải Phật lực, đã hằng gia hộ cho những người tin Phật để giữ được sự tồn tại kinh điển; và hành giả tu pháp môn nào lại không nhờ kinh mà ra! Cho nên bất cứ ai, hễ tu Phật là có được tha lực của Phật. Như thế hành giả tu Phật nào lại dám cho mình không nhờ tha lực!

Xét ra thấy rằng, người niệm Phật quả thật may mắn, liệu được sức mình, mong cầu tha lực Phật A Di Ðà tiếp dẫn vãng sanh.

- Xá Lợi Phất! Ta thấy lợi đó, cho nên nói ra những lời trên đây, nếu chúng sanh nào nghe lời nói này, hãy nên phát nguyện sanh cõi nước ấy.

(Xá Lợi Phất ngã kiến thị lợi cố thuyết thử ngôn, nhược hữu chúng sinh văn thị thuyết giả, ưng đương phát nguyện, sinh bỉ quốc độ).

Ðức Phật, ngài đã xác nhận rõ ràng, việc sanh về Cực Lạc là một việc lợi ích, và ai nghe qua hãy nên phát nguyện sinh sang. Ðây là việc hy hữu vượt lên trên mọi hy hữu, bởi chính kim khẩu của Phật ân cần khuyên dạy chúng ta - hơn nữa, đó là sự thật minh bạch, xác nhận một nơi thuận duyên cho chúng sanh làm trụ xứ tu hành.

Thật đúng như thế, bằng không Phật đã cần gì nói ra điều đó, trong khi chính Ngài là đấng giác ngộ hiện diện ngay cõi Ta Bà này - nếu không phải lợi ích trên hết, Phật chỉ cần chọn ra một pháp môn tiện lợi nào đó thật dễ, cho chúng sanh tại nơi đây, cần gì phải nhắc đến một vị Phật đâu đó mà chúng sanh chưa từng thấy nghe!

Lại nữa, như ngài biết rõ giáo pháp giải thoát vẫn còn tồn tại cả ngàn năm, thì những người tin Phật chỉ cần căn cứ theo vị Phật lịch sử Thích Ca ngay trong cõi này, dễ hơn là tin một vị Phật A Di Ðà ở xa tận mười vạn ức Phật độ! Nhưng, vì công hạnh và nguyện lực của Phật A Di Ðà quá lớn, quá vi diệu với phương tiện độ dẫn chúng sanh quá dễ dàng, do đó ngài không ngại gì mà không khuyên chúng sanh nên tu theo pháp môn niệm danh hiệu Phật kia. Ðây là việc làm từ bi, thương yêu chúng sanh hết mức, để cố gắng nói ra một pháp tu mà chúng sanh thật khó tin. Thế thì hai tiếng lợi ích không thể đơn giản như thế gian thường hiểu, như là an lành, sung sướng, hạnh phúc, bình an, mà lợi ích đây sẽ dẫn đến giải thoát chấm dứt khổ đau trong sáu nẻo luân hồi.

Rồi lợi ích đó lại còn chia xẻ đến hàng chúng sanh khác, một khi một hành giả đã sanh về Cực Lạc. Nghĩa là sẽ thành Phật tương lai, sẽ độ vô lượng chúng sanh.

- Xá Lợi Phất! Như ta hiện nay, khen ngợi Phật A Di Ðà, đó là lợi ích của một công đức chẳng thể nghĩ bàn.

Phương Ðông cũng có Phật A Súc Bệ, Phật Tu di Tướng, Phật Ðại Tu di, Phật Tu di Quang và Phật Diệu Âm... Có Hằng sa số đức Phật như vậy, Ngài nào cũng ở cõi nước của mình, đưa tướng lưỡi rộng dài, che khắp toàn cõi đại thiên thế giới, nói lời thành thật "Hỡi các chúng sanh! Nên tin công đức chẳng thể nghĩ bàn của lời khen ngợi về bổn kinh mà tất cả chư Phật đều cùng hộ niệm"
.

(Xá Lợi Phất, như ngã kim giả tán thán A Di Ðà Phật, bất khả tư nghị, công đức chi lợi, Ðông phương diệc hữu A Súc Bệ Phật, Tu Di Tướng Phật, Ðại Tu Di Phật, Tu Di Quang Phật, Diệu âm Phật như thị đẳng hằng hà sa số chư Phật các ư kỳ quốc, xuất quảng tràng thiệt tướng biến phú tam thiên đại thiên thế giới thuyết thành thật ngôn:

Nhữ đẳng chúng sinh đương tín thị: "xưng tán bất khả tư nghị công đức nhất thiết chư Phật sở hộ niệm kinh"
(10).

Ðức Phật tán thán ca ngợi công đức không thể nghĩ bàn của Phật A Di Ðà; ngài còn dạy không chỉ chính ngài tán thán, mà còn có vô số chư Phật ở những phương khác cũng đều biết công hạnh Phật A Di Ðà, và tán thán khuyên chúng sanh hãy tin nhận.

Xác nhận sự thật và công đức lớn lao của Phật A Di Ðà, Phật phải kể ra hình ảnh tướng lưỡi rộng dài của chư Phật sáu phương hiện ra đồng một lúc để xưng dương tán thán. Ðiều đó được hiểu là những lời nói vô cùng thành thật trong chánh pháp chân lý, nên có sức che khắp toàn cõi đại thiên thế giới.

Việc này chúng ta lại thấy nguyện lực của Phật A Di Ðà lớn thế nào! Lại nghĩ chỉ cần Phật Thích Ca Mâu Ni của chúng ta tán thán thôi, cũng đã bất tư nghị rồi, huống chi ngài dạy, còn những chư Phật ở sáu phương khác nữa, và những chư Phật ở mỗi phương đó lại nhiều như các sông Hằng, tất cả đều ngợi khen tán thán công hạnh của Phật A Di Ðà; nên hễ ai tin nhận sẽ được chư Phật hộ niệm như các ngài hộ niệm bổn kinh này.

Lời nói của Phật Thích Ca quá từ bi, và lòng từ bi nhất của ngài, là dạy chúng sinh nên tin nhận mà hành tu theo, tức nên cầu sanh sang nơi đó.

Ngài từ bi đến độ dùng phương tiện nói thật rõ, nêu ra các chư Phật ở những phương kia đều hiện ra tướng lưỡi rộng dài che khắp ba nghìn đại thiên thế giới nói lời thành thật rằng, chúng sinh nên tin kinh này.

Ðã là Phật, lời nói chẳng bao giờ đi ngoài chánh pháp, chỉ có mục tiêu khiến người nghe sinh tâm an lạc, chuyển thành tâm Bồ Ðề hóa thành tâm Phật. Nhưng ngài cũng phải nhấn mạnh: là chư Phật ở những phương đó nói lời thành thật! Vậy quả là ngài từ bi đến mức nào!

Vì thương cho chúng sanh, những chúng sanh vào hạng căn cơ quá thấp, hay nghi ngờ, cố chấp; chấp những gì thấy được mới tin, chấp những gì chưa hiểu thì chưa cho là chánh pháp. Nên ngài không ngại phải nhấn mạnh, như là một sự thừa thải mặc nhiên; vì đã là Phật đâu cần phải nói, lời nói các ngài thành thật!

Chúng sanh ở hàng mới phát tâm cầu đạo cũng đã sợ nói dối rồi, thì bậc Ðại giác, Ứng cúng, Chánh biến tri lại còn kẹt vào ngôn ngữ thiện ác, nhị biên sao!

Ðối với chư Phật không có việc nhị biên đối đãi như thế gian pháp; tất cả những gì mà chúng ta hiểu các ngài, là do các ngài ứng hiện quyền biến phương tiện để độ chúng sanh mà thôi; cho nên do quyền biến phương tiện nên mượn ngôn ngữ, mượn hoàn cảnh con người, thành ra Phật Thích Ca mới mở lời từ bi dạy cho chúng ta, bằng những tỉ dụ thật từ bi mà chúng ta cứ ngỡ là như thừa thải, hiển nhiên.

Nếu như chư Phật lấy cái biết vượt qua phạm trù của thế gian pháp thì ai lại hiểu!

Chúng ta lại biết pháp Phật, ứng hiện chuyển hóa đến những thế giới qua năm thừa: Nhân thừa, Thiên thừa, Thanh văn thừa, Duyên Giác thừa và Bồ Tát thừa, do đó pháp luân chuyển hóa cũng đi theo từng trình độ, chính thế mà trong kinh Pháp Hoa có tả, khi chưa phải đủ duyên, trình độ hiểu biết, thì trước mặt đấng Thế Tôn một số thính chúng đệ tử vẫn tự động bỏ ra! Ðó là do mờ mịt chẳng hiểu gì.

Từ đây nên hiểu, Kinh Phật hiện thời lưu lại thế gian, chỉ là phần cho thế gian hiểu, chứ riêng cho hàng thượng căn thanh tịnh Bồ Tát, có lẽ còn thật nhiều, mà nhân duyên đó có thể đang được lưu giữ ở Thiên cung hay Long cung chẳng hạn! Ấy vậy mà kinh ở thế gian cho thế gian này, ai lại dám tự hào đọc hết! Xin thưa đọc còn chưa hết, nói chi hiểu hết!

Lẽ đó nên biết, hễ là kinh Phật thì không thể nghĩ bàn; và ai đó hiểu được phần nào người đó được lợi ích phần đó. Nếu hiểu mà thực hành theo điều hiểu của mình người đó sẽ đi vào chánh pháp giải thoát rất mau. Nói như thế, vì hầu như số người hiểu kinh Phật có thể thật nhiều, nhưng số người hiểu mà hành theo thì quả thật ít - ngay như kinh A Di Ðà này nói là khó tin, nhưng khi tin rồi quả là thật dễ, dễ cả luôn thực hành; tuy vậy cuối cùng vẫn còn là khó đối với người đã có niềm tin! Vì sao! Vì không luôn thực hành theo, thành ra không còn là dễ.

GHI CHÚ:

(8) Kinh Thủy Sám - Trước thuật: Ngộ Ðạt Thiền sư - Dịch giả Thích Huyền Dung.

(9) Thập trụ: mười địa vị an trụ của Bồ Tát Ðại thừa. Xem Phật Học Từ Ðiển Ðoàn Trung Còn.

(10) Các Phương tiếp theo như: Nam phương, Tây phương, Bắc phương, Hạ phương và Thượng phương đều mang một ý chung, nên xin không ghi lại.
Nam Mô A Di Đà Phật
Hình ảnh
Hình đại diện của thành viên
battinh
 
Bài viết: 3737
Ngày tham gia: Thứ 2, 14/11/11 10:58 pm
Đã cảm ơn: 51 lần
Đã được cảm ơn: 305 lần
Giới tính: Nam
Đến từ: Tứ Đại

Re: Vượt luân hồi vào Tịnh Độ

Gửi bàigửi bởi battinh » Thứ 5, 13/12/12 9:11 pm

Với kinh Kim Cang không phải là dễ, nhưng tin mà thực hành theo thì cũng thành dễ, như Lục Tổ Huệ Năng; ngài chỉ nghe có một đoạn kinh đã củng cố niềm tin, rồi thực hành theo ngay khi được Ngũ Tổ (Hoằng Nhẫn) thọ nhận, để chứng đạt được pháp giải thoát, lưu lại cho đời một kỳ tích giải thoát sống động qua lời dạy trong Pháp Bảo Ðàn Kinh. Phi thường siêu tuyệt hơn nữa ngài đã chuyển sắc thân ngũ uẩn thô kệch hóa thành xá lợi toàn thân hiện hữu đến hơn ngàn năm nay.

Thật ra kinh dạy về pháp tu niệm Phật cầu sanh cõi Phật A Di Ðà, không phải là một dạng kinh dễ tin và thực hành. Vì các kinh khác thường hay tạo cho người đọc suy nghĩ, tư duy so sánh rồi thể nghiệm vào tự thân và hoàn cảnh, cuối cùng xác quyết tin nhận thực hành theo. Những dạng kinh như vậy ta thấy, hầu như đều nằm trọn trong mười hai loại kinh của Phật (thập nhị bộ kinh) như: Trường hàng, Trùng tụng, Thọ ký, Cô Khởi tụng, Tự thuyết, Nhơn duyên, Thí dụ, Bổn Sự, Bổn sanh, Phương Quảng, Vị Tằng hữu và Luận nghị.

Nghĩa là Phật thuyết pháp qua những nguyên nhân chuyện tích tiền thân của chư Phật, Bồ Tát và chính thân ngài. Hoặc gặp duyên thấy cảnh trước mắt liền lấy đó làm pháp dạy, hoặc cho nhân duyên đệ tử thưa thỉnh vấn nghi, và còn lại là vì muốn thọ ký, khai mở mà tự động nói ra - và đây cũng là việc khó cho hàng đệ tử, vì không nhận được nhân duyên đối với trình độ hiểu biết của mình. Ðây là loại kinh "vô vấn tự thuyết", tức không ai hỏi mà tự nói. Chính tự nhiên như vậy, thường làm thính giả ngơ ngác, lại càng ngơ ngác hơn khi hình ảnh chủ đề nói đến, không nằm trong chánh báo, và y báo ở dạng của thính chúng đang nghe. Hay nói rõ hơn, không giống như những bài pháp, thường mà thính chúng và hoàn cảnh trước mắt được trải qua ở thế gian này.

Cho nên, có những bài pháp chỉ chư Phật với nhau mới hiểu được, và thật đúng kinh A Di Ðà này là loại pháp chỉ có chư Phật với nhau mới hiểu rõ.

Tuy nhiên ta cũng có thể hiểu được phần nào nguyên nhân Phật nói kinh, và sự liên hệ giữa chư Phật đều nhất quán với nhau trong việc độ sanh.

Phật nói kinh A Di Ðà, kinh Vô Lượng Thọ, kinh Quán Vô Lượng Thọ... kinh mà ngài khuyên con người nên nhiếp thân khẩu ý thanh tịnh cầu sanh về cõi Phật, thật ra vẫn có nguyên nhân. Nguyên nhân qua hoàn cảnh của bà Vi Ðề Hi đau khổ trong cảnh sanh phải đứa con đại ngỗ nghịch, giết cha hại mẹ; dù bà lại là đệ tử tại gia của Phật.

Trong sự đau khổ đến mức cùng cực bà chợt nhớ đức Bổn Sư và từ đây, than oán cho hoàn cảnh; chỉ cầu chết đi mong sanh về thế giới nào không có sự khổ đau như vậy.

Phật thấy rõ hoàn cảnh bà, nên trải lòng từ bi dùng thần lực không thể nghĩ bàn, cho bà thấy cảnh trí trang nghiêm thanh tịnh của chư Phật mà cầu sanh về; và thế giới Cực Lạc của Phật A Di Ðà đã được bà nguyện chọn vãng sanh. Sự kiện này được kể trong kinh Quán Vô Lượng Thọ. Nhưng không có nhơn duyên này Phật vẫn nói, đó là trong kinh Vô Lượng Thọ, tuy rằng khởi đầu bằng câu hỏi của ngài A Nan, thấy dung nhan Phật thay đổi trang nghiêm lạ thường; tất nhiên đây là Phật phương tiện từ bi, khiến ngài A Nan thưa thỉnh, chớ A Nan không thể hiểu được Phật sẽ dạy gì.

Xét ra Bà Vi Ðề Hi không thể hiểu nỗi có một pháp tu lạ như thế, có thể hóa giải nỗi khổ con người, từ đó lại liễu đạo chứng quả tại nơi vãng sanh kia (Cực Lạc) - ngài A Nan cũng vậy, cũng không hiểu nguyên nhân hình sắc Như Lai rực rỡ nghiêm tịnh hôm ấy, là khai mở một pháp tu chuyển sinh về thế giới của vị Phật tên A Di Ðà.

Thế thì, đây đúng hợp thời Phật phải khai mở pháp tu niệm Phật, vì lòng từ bi cho chúng sanh trong thời điểm đó, cả đến ngày nay. Và pháp ngài nói ra cũng là tâm nguyện của Phật A Di Ðà đúng lúc cứu độ chúng sanh; vậy thì Phật Thích Ca vì lòng từ bi tự nói ra ứng theo tâm nguyện Phật A Di Ðà tự phát bốn mươi tám lời nguyện, và lời nguyện độ chúng sanh như vậy lại được Phật Thế Tự Tại Vương thọ ký.

Tóm lại để thấy, Pháp môn niệm Phật này, thật không ngạc nhiên khi chỉ Phật với Phật mới hiểu nhau; vì nhìn chung tâm nguyện chư Phật chỉ duy một nguyện độ sanh và phương tiện thế nào thì chỉ các Ngài mới liễu triệt.

- Này Xá Lợi Phất! Ông nghĩ thế nào? Vì sao gọi là kinh pháp đã được tất cả chư Phật đều cùng hộ niệm?

- Xá Lợi Phất! Nếu có thiện nam người thiện nữ nào nghe đến kinh này rồi đem thọ trì, và nghe danh hiệu của các đức Phật, thì những thiện nam và thiện nữ đó, đều được tất cả chư Phật hộ niệm, đều được không còn thoái chuyển đối với Thánh đạo vô thượng Chánh đẳng Chánh giác
.

Xá Lợi Phất, Ư nhữ ý vân hà? Hà cố danh vi: "Nhất thiết chư Phật chi sở hộ niệm"?

Xá Lợi Phất! Nhược hữu thiện nam tử, thiện nữ nhơn, văn thị kinh, thọ trì giả, cập văn chư Phật danh giả, thị chư thiện nam tử, thiện nữ nhơn giai vi nhứt thiết chư Phật chi sở hộ niệm, giai đắc bất thoái chuyển ư A nậu đa la Tam miệu Tam Bồ đề. Thị cố Xá Lợi Phất, nhử đẳng giai đương tín thọ ngã ngữ, cập chư Phật sở thuyết.


Ðức Phật giải thích cho ngài Xá Lợi Phất, kinh này được gọi là kinh mà được hết thảy chư Phật hộ niệm gia bị; bởi vì, nếu có bất cứ hành giả nào nghe danh hiệu Phật A Di Ðà và thọ trì nhớ nghĩ, cũng như nghe qua danh hiệu chư Phật sáu phương, hành giả đó sẽ tạo duyên được sanh về nước Cực Lạc - nơi ấy hành giả sẽ dần đạt được Thánh quả bất thối chuyển, mãi cho đến Quả vị cao nhất là trí tuệ cao thượng của Phật mà được gọi A Nậu Ða La Tam Miệu Tam Bồ Ðề. Ðó là một sự thật mà đức Phật đã giảng dạy cho ngài Xá Lợi Phất.

Tất nhiên chúng ta hiểu, chỉ nghe tên Phật thôi, không thể đạt được giác ngộ, nhưng sẽ được kết duyên trong nhiều đời sau. Ở đây Phật dạy nghe qua rồi thọ trì, sẽ đạt được quả báo thành Phật.

Nhưng ta lại ngạc nhiên, rằng chỉ thọ trì danh hiệu Phật mà được thành Phật!

Sự việc sao dễ đến thế! Người học Phật có quyền thắc mắc, nghi ngờ; tuy nhiên có những sự việc vượt qua trí hiểu biết của mình, thì việc nghi ngờ đó trở thành bất lợi cho mình thôi.

Chúng ta nên nhớ, Phật đã nói, đây là pháp tu khó tin "nan tín chi pháp" và đã khó tin, nên tất nhiên không dễ nhanh chóng chấp nhận. Tuy thế ta cũng vẫn đặt lại niềm tin, dù đây là niềm tin được Phật chỉ dạy nên tin.

Thứ nhất, điều này được ngài A Nan kể rõ là lời Phật Thích Ca nói ra, chứ không phải vị đại đệ tử nào của Phật dạy, cũng không phải chư Phạm thiên hiện xuống giảng dạy; kể cả ngoài Phật Thích Ca không nghe nói có vị Phật nào xuất hiện lúc đó giảng dạy điều này.

Thứ hai, ngoài Phật Thích Ca và vô số chư Phật sáu phương biết được pháp tu này, không một vị Ðại Bồ Tát hay đệ tử lớn nào của Phật Thích Ca biết được.

Thứ ba đã không ai biết cách cõi Ta Bà mười vạn ức Phật độ có thế giới Cực Lạc của Phật A Di Ðà, thì làm sao biết để dạy cầu sanh về nơi đó.

Ba việc này rõ ràng, xác định được sự kiện xảy ra thế nào và có thật hay không thật.

Bây giờ thử nhận định thêm, dựa theo lý, sự của pháp tu, xem ta có thành Phật được không, đây mới là vấn đề! Bởi đã có sự thật xuất xứ pháp tu thì phải có sự thật quả báo.

Chúng ta lại trở về tự hỏi như ban đầu; trí Phật đã khó nghĩ bàn, vì thế việc làm của ngài ta không thể hiểu được. Nhưng ta cũng thử nghĩ xem, thọ trì danh hiệu Phật tác dụng đến đâu!

Niệm Phật là niệm tánh giác của mình, vì nghĩa của chữ Phật là tỉnh thức, sáng suốt, giác ngộ hết thảy các pháp. Khi tâm hành giả luôn thọ trì tánh giác, sáng suốt, ý thức, mọi hành động của mình, hành giả đã lọc sạch được những tánh vô minh ngu muội của vọng thức phiền não.

Khi trong sạch thanh tịnh bằng tánh giác, hành giả sẽ sống an định trong an lạc; bây giờ hành giả đã bắt đầu tạo nên giới hạnh trong đời sống. Nghĩa là hành giả đã sống trong giới phẩm của mình một cách thuần tịnh mà không cần cố gắng.

Hành giả là cư sĩ hay tu sĩ đều hài hòa cả hai mặt, giới tướng và giới thể. Hành giả không còn cố gắng để giữ giới mà đã thanh tịnh giới, vì tâm đã nhiếp vào hành động nên không thể sai ngược.

Giới là nền tảng, là nấc thang đầu tiên đưa đến thành tựu mục tiêu giải thoát, do đó thân tâm hành giả bây giờ mặc nhiên an lạc nhẹ nhàng, và tánh giác mà hành giả thọ trì, tức là danh hiệu Phật, giờ đây dễ dàng nhập tâm khi khơi lên; hành giả chính thức đạt được định. Cuối cùng hành giả sẽ thấy vấn đề sáng ra, giữa hành giả và pháp tu chỉ là một mà không có hai. Hành giả là Phật, Phật là hành giả, nói dễ chấp nhận hơn, hành giả là người giác ngộ, người giác ngộ chính là hành giả.

Ðến đây chúng ta thấy thế nào! Người thọ trì luôn niệm tánh giác, sáng suốt, ý thức mọi hành động theo chánh pháp - khi bỏ thân ngũ uẩn hẳn nhiên dòng ý thức sáng suốt sẽ chảy về nơi thanh tịnh. Hành giả sẽ từ bỏ vọng thức chuyển qua chân thức trong sự nương vào ý thức giác ngộ; và thân trung ấm bấy giờ thay thế cho thức giác sáng suốt, để quay về hình ảnh tươi đẹp của chân thức thanh tịnh, biến hiện hòa vào cảnh Phật (sáng suốt) - tự nhiên hành giả thấy dòng sáng thanh tịnh xuất hiện không khác niệm giác của hành giả, và đó là lúc mà chúng ta gọi là Phật A Di Ðà cùng chư Thánh Chúng hiện đến tiếp dẫn.

Như vậy khi ở nơi ít thuận duyên này (Ta Bà) mà hành giả vẫn tạo cho mình một thắng duyên thanh tịnh, thì nơi thanh tịnh là cõi A Di Ðà có vô số dòng sáng thanh tịnh, việc chuyển thành toàn chân thanh tịnh chắc chắn không khó. Thế là hành giả đã là Phật tương lai, đúng như Phật dạy tất cả sẽ đều được không thối chuyển với Thánh đạo vô thượng chánh đẳng chánh giác.

Vậy thì đúng là niệm Phật sẽ thành Phật, và ta sẽ thành Phật ở Cực Lạc, nhưng kết quả đó là do nhân duyên niệm Phật ở thế giới Ta Bà đây.

- Xá Lợi Phất! Nếu có người nào, hoặc đã phát nguyện, hiện đang phát nguyện và sẽ phát nguyện, muốn sanh cõi nước Phật A Di Ðà, thì những người đó đều chẳng thoái chuyển nơi đạo vô thượng Chánh đẳng Chánh giác, nơi cõi nước ấy họ đã sanh rồi, hoặc hiện nay sanh, hoặc là sẽ sanh. Thế nên Xá Lợi Phất! Những kẻ thiện nam, những người thiện nữ, nếu có đức tin, hãy nên phát nguyện sanh cõi nước ấy.

Xá Lợi Phất, nhược hữu nhơn dĩ phát nguyện, kim phát nguyện, đương phát nguyện, dục sinh A Di Ðà Phật quốc giả, thị chư nhơn đẳng giai đắc bất thối chuyển ư A nậu đa la Tam miệu Tam Bồ Ðề, ư bỉ quốc độ, nhược dĩ sinh, nhược kim sinh, nhược đương sinh. Thị cố Xá Lợi Phất, chư thiện nam tử, thiện nữ nhơn, nhược hữu tín giả, ưng đương phát nguyện, sinh bỉ quốc độ.

Pháp tu niệm Phật phần lớn nhờ vào tha lực, nhưng xét kỹ nơi đây ta lại là chánh nhân, vì nếu không nguyện, hẳn sẽ không thành và nguyện tất nhiên phải hành, và ai nguyện và hành đây! Chính hành giả niệm Phật.

Phật đã ân cần dạy, nếu có đức tin hãy nên nguyện sanh cõi nước ấy. Một điều thật phi thường, là hễ có nguyện tức được sanh về đất Phật.

Phật đã thấy nhiều chúng sanh, đã sanh ở Cực Lạc hiện đang an trụ, và nhiều chúng sanh khác đang chuẩn bị được sanh, cũng như sẽ sanh.

Như thế từ quá khứ đến nay, cả đến tương lai, số hành giả nương về Cực Lạc của Phật A Di Ðà số lượng không thể nghĩ bàn. Chúng ta hiện là những chúng sanh đang ở vị trí hiện tại, đang thực hành pháp môn niệm Phật, đang mong muốn vãng sanh; như nếu chúng ta có thắc mắc, thật hay không chuyện được vãng sanh, thì hãy nhớ đoạn kinh trên.

Phật nhấn mạnh là số hành giả vãng sanh Cực Lạc, đã có thật nhiều trong quá khứ và hiện nay đang có cho đến tương lai.

Nhìn về quá khứ xa, ta không biết được; nếu có biết chỉ biết pháp tu cầu sanh vào cõi Phật, có từ khi Phật Thích Ca nói ra ở Ta Bà này, chớ số người được sanh sang cõi Phật thì ta chỉ nghe trong kinh, cũng như thời nay nghe không được bao nhiêu người! Hơn nữa, hiện tại chỉ là nghe, còn chứng kiến thì hiếm thấy. Chính điều này phần nào làm ta ái ngại, tương lai mình có được nằm trong số người ít oi may mắn đó không!

Bằng Phật nhãn, Phật thấy vô số hành giả được sanh về Cực Lạc, như trong kinh Vô Lượng Thọ, nói qua: Ngài Di Lặc thưa Ðức Thế Tôn: - Kính bạch Thế Tôn! Nơi thế giới này có chừng bao nhiêu Bồ Tát bất thoái sanh về cõi ấy? Ðức Phật đáp: - Thế giới này có sáu mươi bảy ức Bồ Tát bất thoái sanh về nước ấy, mỗi mỗi Bồ Tát đã từng cúng dường vô số đức Phật, kế đây đều sẽ đồng như Di Lặc, còn những Bồ Tát tu những hạnh nhỏ và những người tu chút ít công đức, số đó đông đảo không thể tính kể. Tất cả số ấy đều sẽ sanh về.

Thế thì tại ta chưa có thiên nhãn nên không biết, không thấy, chỉ hạn cuộc nhìn thấy vài việc hiện tại và nghe vài chuyện quá khứ, còn tương lai mù tịt, do vậy lo xa. Nay nghe Phật dạy mới hiểu, nên mừng cho mình nhất định sẽ vãng sanh, và vãng sanh theo trình độ trong số những Bồ Tát tu hạnh nhỏ hay ít công đức.

Lại nhớ đoạn Phật dạy, không thể lấy một ít công đức mà được sanh về Cực Lạc!

Thật vậy, vì sanh được vào tức sẽ thành Phật nên chẳng thể đổi chút công đức ít oi mà được. Nhưng gần về sau cuối kinh, Phật dạy hãy nên phát nguyện sanh về.

Nghĩ ra cũng dễ hiểu; dù là khó sanh nếu công đức ít, tuy nhiên lại chắc chắn được sanh nếu sanh tâm phát nguyện; như vậy công đức ít, nhiều có thể là phẩm vị đạt được từ hạ phẩm đến thượng phẩm - và được về hay không thì phải có nguyện mới thành. Do đó Phật mới dạy "... nếu có người nào hoặc đã phát nguyện, hiện đang phát nguyện và sẽ phát nguyện thì ...nơi cõi ấy họ đã sanh rồi, hoặc hiện nay sanh, hoặc sẽ sanh!

Có lẽ ta cũng còn nghi ngại cụ thể thế nào, qua lời tả của Phật là: hiện nay sanh, hoặc sẽ sanh!

Trong kinh Hiền Ngu có một đoạn kể, ông Tu Ðạt làm phước cúng dường xây cất ngôi Tam Bảo. Bấy giờ ngài Xá Lợi Phất đã cho ông biết phước báo của ông thế nào! Và đây là mẫu đối thoại trong kinh: "... Cách mấy bữa sau, ngài (Xá Lợi Phất) và ông Tu Ðạt, đo đất tại khu vườn Kỳ Hoàn, mỗi người cầm một đầu dây, thấy ngài mỉm cười! Ông Tu Ðạt hỏi:

- Tôn giả cười gì?

- Tôi cùng ông cầm dây đo, vừa hết một vòng vườn này, thì cung điện ở trên sáu cõi trời đã làm xong! Vì thế mà tôi cười!

- Vì lý do gì Tôn giả cười?

- Vì ông làm Tinh Xá cúng Phật nên phúc của ông được ở các cung điện cõi trời, hiện ra nhanh như vậy! Tôi sẽ cho ông mượn đạo nhãn mà coi!

Ông Tu Ðạt nhờ đạo nhãn, nhìn thấy những cung điện rất trang nghiêm đẹp đẽ, giành riêng cho mình lên sáu cõi trời, thưa rằng:

- Kính Tôn giả trong sáu cõi này; cõi nào vui hơn nhất?

- Ba cõi dưới đam hoang về sắc dục nhiều, đến cõi thứ tư, là những người ít dục biết đủ, thường có những Bồ Tát nhất sinh bổ xứ sinh tới, tiếng thuyết pháp không lúc nào ngớt. Trên còn hai cõi nữa, những chúng sanh ở đấy có tính kiêu mạn dật lạc; buông lung lu bù.

- Kính thưa Tôn giả! Nếu vậy, đời sau con nguyện sanh lên cõi thứ tư!

- Ông nguyện xong, các cung điện kia đều diệt hết, mà chỉ nhìn thấy cung điện cõi thứ tư ...
(11)

Qua đoạn kinh trên, cụ thể hiểu rằng, tại sao Phật lại thấy rõ, hiện nay đang có và sẽ có vô số chúng sanh vãng sanh! Vì chúng sanh hiện đang niệm Phật thì hoa sen đã hiện ra ở cõi Cực Lạc rồi. Ðã hiện ra nghĩa là đang sanh, và hoa sen khi chắc chắn, có nghĩa sẽ sanh vậy! Ðiều này có khác gì ông Tu Ðạt đang làm phước, mà lầu phước trên cõi trời cùng lúc đã sanh ra. Rồi ông Tu Ðạt nghe Xá Lợi Phất kể về cảnh nào là vui là thắng duyên, liền phát nguyện sinh vào cảnh tốt lành đó.

GHI CHÚ:

(11) Kinh Hiền Ngu - Phẩm thứ Bốn mươi ba, sđd.
Nam Mô A Di Đà Phật
Hình ảnh
Hình đại diện của thành viên
battinh
 
Bài viết: 3737
Ngày tham gia: Thứ 2, 14/11/11 10:58 pm
Đã cảm ơn: 51 lần
Đã được cảm ơn: 305 lần
Giới tính: Nam
Đến từ: Tứ Đại

Re: Vượt luân hồi vào Tịnh Độ

Gửi bàigửi bởi battinh » Thứ 6, 14/12/12 10:14 am

Người niệm Phật duy nhất một nguyện và thật rõ ràng, nên không sợ lạc. Nhân đây lại thấy lời nguyện vô cùng quan trọng. Nếu ngài Xá Lợi Phất không chỉ dạy, ông Tu Ðạt lần lượt chắc sẽ hưởng qua các phước báo ở nhiều cảnh trời, mà không rõ được cảnh nào có được pháp Phật, dù rằng ông tạo phước duyên với Phật pháp!

Chợt nghĩ mà tiếc! Giá như có Phật hiện thời, để được xin ngài cho chút đạo nhãn mà xem hoa sen đang nở của chúng ta!

- Xá Lợi Phất! Như ta hiện nay khen ngợi công đức chẳng thể nghĩ bàn của các đức Phật, thì chư Phật kia cũng đều khen ngợi công đức chẳng thể nghĩ bàn của ta và nói lời này: "Ðức Phật Thích Ca Mâu Ni có thể làm điều rất khó hiếm có, Ngài hay ở tại cõi nước Ta bà, nhằm đời xấu ác năm thứ ô trược, kiếp trược, kiến trược, phiền não trược, chúng sanh trược, mạng trược mà chứng Vô thượng chánh đẳng chánh giác, rồi vì chúng sanh, nói ra pháp môn mà cả thế gian khó tin tưởng này".

Xá Lợi Phất! Như ngã kim giả, xưng tán chư Phật bất khả tư nghị công đức, bỉ chư Phật đẳng, diệc xưng tán ngã bất khả tư nghị công đức nhi tác thị ngôn: "Thích Ca Mâu Ni Phật năng vi thậm nan hy hữu chi sự, năng ư Ta Bà quốc độ ngũ trược ác thế; kiếp trược, kiến trược, phiền não trược, chúng sanh trược, mạng trược trung đắc A nậu đa la Tam miệu Tam Bồ Ðề, vị chư chúng sanh, thuyết thị nhứt thiết thế gian thuyết thử nan tín chi pháp".

Phật dạy rằng, chư Phật sáu phương ca ngợi công đức của Ngài, khi ở ngay cõi trược mà đắc quả Vô thượng Bồ Ðề, lại thêm ca ngợi, đã vì chúng sanh nói ra pháp môn khó tin này.

Chúng ta hiểu, việc Phật thành đạo ở cõi trược là việc khó được, mà việc nói ra pháp môn niệm Phật cầu vãng sanh cũng khó không kém. Vì rõ ràng chư Phật sáu phương đã ca tụng tán thán như trên.

Như thế pháp môn niệm Phật cầu sanh về nước Phật, tuyệt đối không phải là điều dễ tin. Ðiều này không những người chưa quen Phật pháp đã không tin, mà cả đến không ít người trong Phật pháp cũng không tin.

Số người bên ngoài nếu có tin, thì tin niệm Phật cũng chẳng khác gì cầu thánh thần, thượng đế ban ơn cứu giúp.

Thật ra, không thể cho nhận xét như vậy là sai, bởi vì số người đó chưa học hiểu qua đạo giải thoát. Và một số người học Phật mà không tin pháp môn này là những người có nghiên cứu tìm hiểu, đây cũng chỉ vì không có duyên với pháp môn này thôi. Hay nói đúng hơn vì các pháp môn khác là tự lực, điều phục được tâm, ngộ chứng được đạo; trong khi pháp này hầu như hoàn toàn nhờ tha lực, giống như phó thác hết cho đức Phật A Di Ðà, hành giả chỉ cần niệm Phật mà không làm gì cả!

Chẳng làm gì, nghĩa là chẳng công phu thiền định thuần túy như lịch sử Phật Thích Ca!

Việc lý luận thế nào chỉ mang lại vọng tưởng tạo thêm vọng thức, làm lớn cái ngã của đôi bên, và đi xa Pháp nhất quán là cứu cánh thoát khổ. Chúng ta chỉ nên lắng tâm niệm Phật như lời Phật dạy.

Ngay như Phật nói ra Pháp môn này không một Thánh Tăng, Bồ Tát nào biết được, do vậy nếu không phải là Phật nói, không ai có thể tin được; và những vị không tin đó là ai trong thời điểm Phật nói? Là các vị Thanh Văn, Duyên Giác, và kể cả chư Bồ Tát lớn nữa - cũng may, sự thật kinh niệm Phật này do chính kim khẩu ngài tuyên thuyết, thành ra chư Thánh chúng đều tin. Bằng chứng cụ thể chúng ta đã đọc thấy trong kinh, sự hiện diện trong pháp thoại kinh A Di Ðà, Vô Lượng Thọ, Quán Vô Lượng Thọ đều tả lại sự tham dự vô số chư Thánh, Bồ Tát... để cuối cùng hoan hỷ phụng hành.

Thế thì ngày nay chỉ là nghe lại từ trong kinh, lại cách thời Phật gần ba ngàn năm thì việc chẳng tin đâu có gì là lạ! Và càng không lạ hơn, là các vị không tin của thời nay hầu hết đều là phàm nhân.

Tuy nhiên một điều nên lưu ý, Phật nhắc việc liên quan đến cõi Cực Lạc, cũng xãy ra nhiều trong các kinh điển Ðại thừa, như kinh Pháp Hoa, Bảo Tích, Hoa Nghiêm...

Tiêu biểu ba kinh này thôi, đủ minh chứng Pháp tu niệm Phật cầu sinh Cực Lạc là pháp tu do Phật nói; và chân giá trị đích thực của ba bộ kinh vừa kể, khiến biết thêm cõi Cực Lạc là nơi nên nguyện sinh về.

Tìm hiểu phần nào về cái khó, mà chư Phật sáu phương đều tán thán ca ngợi đức Phật Thích Ca!

Lời tán thán, là ở ngay đời ngũ trược mà thành đạo Vô Thượng.

Ngũ trược ở thế gian, nói lên năm nghịch cảnh chúng sanh phải chịu đựng, đó là: Kiếp trược, Kiến trược, Phiền não trược, Chúng sinh trược và Mệnh trược.

Trược là những gì ô nhiễm tác động não hại vào thân tâm con người, khiến con người không thể an ổn, yên hòa. Những điều khó chịu và ô nhiễm như vậy, luôn luôn quay phủ bao vây con người, nên thường làm bế tắc tánh chất chân thiện, và hầu như trấn áp tinh thần, khó làm người ta vươn lên những chân trời cao rộng nếu người đó không may, chẳng biết Phật pháp.

Nói rõ mỗi trược, đơn giản như sau:

- Kiếp trược nói lên một kiếp sống vẩn đục phiền hà ô nhiễm; con người sanh vào kiếp này hiếm gặp được giáo pháp của đấng siêu nhân (Phật), và nếu gặp được cũng khó an lành thực hành đạt được thành quả như ý.

Con người sống trong thời kiếp trược, tuổi thọ không thể dài lâu để thực hiện những ước mơ cao đẹp; cộng thêm giao động bất an của ngoại cảnh đen ngòm của đời sống luôn luôn đe dọa, như thiên tai trời đất, do vậy hầu hết con người trong thời kiếp trược thường bị cuốn trôi theo dòng nước ô nhiễm trước khi tỉnh thức giác ngộ.

Chúng ta ngày nay đang sống thời điểm kiếp trược đây, và đang may mắn nghe được giáo pháp của bậc siêu nhân, cho nên hiểu biết được việc khó biết nầy, thật là vượt hơn hết trong cái may mắn.

Như ta không biết, không hiểu Phật pháp chắc chắn sẽ tiếp tục bị cuốn theo dòng nước vẩn đục đến bao giờ mới tỉnh ngộ!

Nhưng rồi tỉnh ngộ là tỉnh ngộ điều gì?

Người dù không tin luân hồi, không tin đời sau kiếp trước, nhưng nhất định họ không thể nào không tin đời là khổ - chính việc không tin có đời sau khiến họ đâu biết rằng cái khổ hiện thời có khác gì vô số đời trước họ đã từng khổ, và có thể khổ hơn nữa, cũng như tương lai nào khác!

Ðó là việc tỉnh ngộ về kiếp trược mà chúng sinh phải quằn quại trong đó. Và thời gian kiếp lại kéo dài lê thê so với mạng người quá ngắn ngủi; thành ra bị kẹt trong kiếp trược, gặp được Phật quả hết sức là may mắn.

Kiếp sống của chúng ta đây đang đi vào Kiếp giảm, để rồi đây tuổi thọ con người chỉ còn không hơn mười tuổi; chừng ấy cái khổ cọ sát phủ đầu, không kịp ý thức về thiện pháp huống gì rảnh rang tư duy đạo pháp. Nhưng dù chúng ta có sống ở Kiếp Tăng, tuổi thọ đến tám mươi bốn ngàn tuổi (84,000), chưa chắc rằng ta lại dễ dàng gặp Phật pháp, vì với số tuổi như vậy ở cõi trời là chuyện quá thường và họ lại càng phiêu lưu hơn ta! Nghĩa là một số cảnh trời còn khó gặp Phật hơn ta nữa, nên quả báo trước mặt chắc chắn sẽ rơi rụng xuống những cảnh giới khổ đau hơn. Vậy thì ở Kiếp Tăng lại chẳng khác cảnh trời! Duy chỉ may mắn là còn có khổ trong cái tuổi thọ dài đó, nên có thể từ đó mới mong cầu đi tìm Phật pháp.

- Kiến trược, là nói về sự mê mờ vụng dại của con người, không thể nhận định được chân lý, nên bị hấp lực của ngoại duyên phát sinh vọng thức; khiến tánh giác lu mờ, huệ căn suy giảm.

- Phiền não trược, là tánh chất ưu phiền, khổ lụy do tham dục, luyến ái tự thân con người, khiến phải luôn luôn dằn vặt đau khổ trong mọi hoàn cảnh.

- Chúng sanh trược, nói lên sự mê lầm đau khổ, từ sự khởi tác trần cảnh bên ngoài, nên sanh chấp chặt thân thể để rồi dễ tạo nghiệp ác, quay mãi trong đau khổ luân hồi.

- Mệnh trược, cộng vào ô trược của thân, lại phải đối diện với tính vô thường của thân mệnh, nên sống bấp bênh trong sự sợ hãi mà chẳng biết được thọ mạng của mình.

Qua năm việc trược ở cõi Ta Bà này, mà một vị Bồ Tát đã vượt qua tất cả để cuối cùng thành đạo Vô thượng, quả là điều mà chư Phật sáu phương phải tán thán. Ðiều này mặc nhiên cho thấy hành giả Bồ Tát phải tích lũy thiện nghiệp hành Bồ Tát đạo vô số kiếp mới có thể chống chọi với mọi chặng đường cam go của ngũ trược.

Ở đây chúng ta không thể nào hiểu được việc làm của Bồ Tát trong địa vị tiến gần tới quả Vô Thượng. Chỉ cần nghe sự tán thán công đức của chư Phật sáu phương đủ thấy hành pháp khó nghĩ bàn của Ðại Bồ Tát, do thế mới gọi là việc khó làm.

Riêng việc nói ra pháp môn niệm Phật vượt thoát luân hồi, lại là việc khó nữa. Căn cứ vào ngũ trược suy ra; nếu không phải bằng trí huệ của một vị Phật thì không ai nói được pháp tu này. Và dù có biết cũng không thể nói, vì địa vị không đủ làm cho người tin.

Sự ô nhiễm của ngũ trược nặng đến nỗi, nếu không phải là bậc toàn giác nói ra, chúng sanh ở đời ngũ trược phải cam phận mãi vị trí khổ đau này! Tại sao?

Bởi vì một khi chúng sanh đã ở ngay thế giới phủ đầy ngũ trược, họ sẽ khó tin được có một thế giới hoàng kim (Cực Lạc). Do vì sanh ra đời ngũ trược, tất nhiên câu sanh phiền não (12) phải cưu mang theo nên không thể tin được có thế giới dệt bằng hoa sen, và ngũ uẩn trong suốt. Lại nữa, mọi thứ tà kiến dẫy đầy ấp phủ trên đầu người, nên không còn sáng suốt nhận ra chánh pháp giải thoát, khó nữa là pháp tu niệm Phật cầu vãng sanh này. Như thế mới thấy, vì sao sáu phương chư Phật ca tụng Phật Thích Ca đã làm được việc rất khó.

- Xá Lợi Phất! Nên biết rằng ta ở vào thời buổi năm thứ ác trược làm sự khó đây: ấy là chứng quả vô thượng chánh đẳng chánh giác, vì khắp thế gian, nói ra giáo pháp khó tin thế này.

(Xá Lợi Phất đương tri ngã ư ngũ trược ác thế hành thử nan sự, đắc A Nậu Ða La Tam Miệu Tam Bồ Ðề, vị nhất thiết thế gian thuyết thử nan tín chi pháp, thị vi thậm nan).

Một người chân thật ở thế gian, không bao giờ có tánh tự cao ngã mạn, huống gì một người Phật tử chân chánh, hiểu rõ các pháp là vô ngã. Ở đây lại là đấng toàn giác, tất nhiên ta hiểu mọi lời ngài dạy đều vì chúng sanh, vì nhân duyên thời tiết. Phật nhấn mạnh sự việc chứng đạo Vô Thượng của ngài, và việc nói ra pháp tu khó tin, cốt ý tác động vào tâm hàng hậu học, nhận rõ việc hy hữu, và từ việc hy hữu này, người học pháp nghe qua phải nên thực hành theo.

Ðức Phật nói kinh này rồi, Ngài Xá Lợi Phất và các Tỳ kheo, tất cả thế gian, các chúng trời người và A Tu la ... nghe lời Phật dạy, mọi người vui mừng tin nhận lời Phật, làm lễ lui bước.

Phật thuyết thử kinh dĩ, Xá Lợi Phất cập chư Tỳ kheo, nhứt thiết thế gian, Thiên, Nhơn, A Tu La đẳng, văn Phật sở thuyết, hoan hỷ tín thọ, tác lễ nhi khứ.

GHI CHÚ:

(12) Câu sanh phiền não: là những phiền não đi theo mãi với một chúng sanh từ vô thỉ kiếp; chúng có mặt ngay khi con người xuất hiện, tánh chất của chúng là độc tố phá đi các thiện pháp, đó là Tham, Sân, Si.
Nam Mô A Di Đà Phật
Hình ảnh
Hình đại diện của thành viên
battinh
 
Bài viết: 3737
Ngày tham gia: Thứ 2, 14/11/11 10:58 pm
Đã cảm ơn: 51 lần
Đã được cảm ơn: 305 lần
Giới tính: Nam
Đến từ: Tứ Đại

Re: Vượt luân hồi vào Tịnh Độ

Gửi bàigửi bởi battinh » Thứ 6, 14/12/12 9:07 pm

Chương III
PHÁ VỠ CHƯỚNG NGẠI TRÊN ĐƯỜNG NIỆM PHẬT

Hắn gấp lại quyển kinh, nâng lên cao áp vào trán, giữ như vậy vài phút rồi đặt nhẹ xuống bàn; chấp hai tay lại thành kính xá vái thật chân thành ngưỡng mộ.

Như thế kẻ say ngủ đã tìm được vật quý nhất thế gian này, để từ đây không còn phải lo sợ cho đời này đời sau mãi quay vòng như tơ rối.

Từ khi bước vào nhà Phật, hắn đã đắn đo bao điều pháp học; phải thế nào để tìm được hướng đi cho mình, tránh việc lý luận suông mà thực hành thì quá ít.

Nhân duyên hiểu lời Phật dạy qua kinh A Di Ðà, giờ đây đã là cuộc cách mạng lớn - nó đã chính thức thay đổi cách nhìn về con người và cuộc đời của hắn. Hắn thật vui mừng, thầm nghĩ, từ đây tất cả còn lại, chỉ là chuẩn bị dọn đường chờ ngày về Tịnh Ðộ.

Bất chợt! Ngay trong lúc này, hắn cảm thấy một điều không vui, khi nghĩ đến một số người đã không có niềm tin niệm Phật, để rồi sẽ không bao giờ gặp duyên vào được một thế giới huy hoàng mà kinh A Di Ðà lược kể.

Hắn tự suy diễn tìm hiểu nguyên nhân rõ hơn.

Và đây có lẽ là những lý do:

- Vì con người đã quen rồi từ nhỏ, chưa từng nghe ai nói, ngoài trái đất lại có một thế giới tươi đẹp hơn. Nhưng nếu có một thế giới đẹp, thế giới đó không thể nào có những việc lạ lùng như kinh A Di Ðà kể.

- Vì cho đến nay nhân loại đã văn minh, đã phóng phi thuyền ra ngoài trái đất khám phá không gian vũ trụ, đã gởi đi nhiều tín hiệu, thăm dò tìm kiếm sự lên tiếng trả lời của "người" ngoài trái đất. Việc làm này đã gần nửa thế kỷ qua, mà đến nay chẳng được tín hiệu cụ thể, hình ảnh rõ ràng một thế giới đang sinh hoạt của một loài sinh vật nào.

Tuy nhiên việc tìm kiếm khám phá này hy vọng chắc chắn sẽ có; chỉ có điều, cảnh tượng và sinh hoạt thế giới đó không thể nào quái lạ như kinh A Di Ðà miêu tả.

Ðó là những nghi ngờ tổng quan, phủ nhận có thế giới Cực Lạc.

Về chi tiết diễn tả cảnh sinh hoạt của người cõi Cực Lạc, lại càng làm con người ở hành tinh này không tin hơn:

- Làm sao hoa sen có thể sanh ra người?

- Làm sao thân người trong suốt; lại không có cấu tạo ăn uống, bài tiết như vô số sinh vật trên trái đất này?

- Làm sao có thể dùng ý tưởng mà muốn ăn là có ăn, muốn hóa thân đi đâu chẳng ngại?

- Làm sao ai cũng vui vẽ an lành không một mống niệm phiền não?

- Làm sao người ở đó không một ai mà không có thần thông?

Và còn nhiều việc lạ lùng nữa về con người ở thế giới Cực Lạc kia.

Về hoàn cảnh địa dư:

- Làm sao thế giới đó luôn luôn sáng mà không nhờ vào mặt trời, ngôi sao chiếu vào?

- Làm sao đất đai toàn ngọc báu?

- Làm sao cung điện nhà cửa ở thế giới đó đều không phải do xây cất bằng tay chân hay máy móc?

Vân vân và vân vân!

Ðại khái chỉ bao câu hỏi như vậy; càng đặt thêm người ta càng phủ nhận sự thật thế giới kia.

Từ kiến thức căn bản có được, qua nhân duyên hiểu được lời Phật dạy nói chung và kinh A Di Ðà nói riêng, hắn tạm tìm hiểu, tự trả lời cho mình những nghi ngờ trên.

- Ðiều mà người ta không tin, thật tình mà nói là đúng. Bởi vì: từ nhỏ tới trưởng thành hầu như chưa bao giờ nghe nói có thế giới lạ đó; lại càng chưa thấy ai nói đã chứng kiến cảnh nầy.

- Lại nghĩ rằng, nếu người tu niệm Phật cho là khó diện kiến với người dân bên đó; nhưng lại tin người ở Cực Lạc có thần thông vân du tự tại; vậy hỏi sao họ không đến thăm trái đất!

- Còn sự kiện đĩa bay UFO (Unidentified Flying Object - Vật bay chưa xác nhận được) xuất hiện đâu đó như một vài tin đã đăng tải mà loài người chúng ta nghe qua, nếu đây là người ở thế giới Cực Lạc, thì càng làm mọi người phủ nhận những gì trong kinh ca ngợi tán thán! Vì sao? Vì họ cũng phải nhờ bằng đĩa bay, và hình sắc dung nghi chẳng đẹp như người ở trái đất!

- Tương tự những sự lạ lùng trên, hầu hết con người ở trái đất này không chứng kiến và không có chứng cớ, nên không tin.

- Nguyên nhân người ta phủ nhận, bởi vì đã chấp chặt vào giác quan ngũ uẩn(1), chấp chặt vào truyền thống, phong hóa lâu đời, chấp chặt vào tình cảm, tâm, sinh lý của con người và hoàn cảnh chung quanh. Hay nói tóm lại do thân xác ngũ uẩn, là nguyên nhân chính(2), mới sinh ra tất cả rồi tự chấp dính vào; thế nên nhà Phật gọi là chấp ngã, chấp pháp - Lại nói theo thuật ngữ của Duy Thức là "Câu sanh vô minh", nghĩa là sự sai lầm không sáng suốt (chấp ngã, pháp) đã đi với ta từ khi có mặt trong thai mẹ, rồi xuất hiện ra đời, dù không ai dạy mà ta đã có Tham, Sân, Si, Mạn, Nghi.

Với con người của thế kỷ 21 cũng vẫn là câu sanh vô minh, và dù muôn thế kỷ tới nữa vẫn không khác, trừ khi con người tự quay về lại chính mình để tìm ra Phật tánh (Bản thể sáng suốt), chừng ấy mới thấy tất cả.

Chúng ta vẫn đồng ý rằng, sự thấy biết phải được kiểm chứng, và nền khoa học ngày nay có đủ tư cách nói lên việc miêu tả trong kinh A Di Ðà không thể thấy được và kiểm chứng được!

Nhưng chúng ta cũng có thể nói rằng, vì khoa học chưa đạt tới trình độ để hiểu biết mà thôi. Rõ ràng như vậy; khoa học vẫn là mãi mãi đang dò tìm học hỏi, chớ không phải là chân lý, bất di bất dịch.

Thí dụ, cách đây năm chục năm có ai lại tin điện thoại nhỏ không dây (Mobie phone) bây giờ, và điện thoại tại nhà có thể vừa nói chuyện vừa thấy hình người đầu dây bên kia!

Nếu thời điểm đó mà thấy một người cầm một vật nhỏ bằng nắm tay (Mobile phone), đưa lên giữa tai và miệng rồi nói chuyện một mình, chắc không ai lại không nói người ấy khùng. Khùng nặng hơn, nếu người đó dùng hệ thống nghe nói bằng dây (handfree) gắn qua điện thoại, trong khi điện thoại lại nằm gọn trong túi áo - người ấy nói chuyện mà chẳng cần cầm vật gì đưa lên miệng; người ấy thoải mái tự nhiên vừa cười vừa nói; thỉnh thoảng lại lắc đầu, rồi gật đầu đồng ý v.v... vậy chắc người chung quanh của thập niên năm mươi phải chào thua với anh điên nầy đã quá mức!

Thời gian cách đây của thập niên năm mươi, thật ra cũng đâu có xa gì lắm.

Hiện thì dân số trên địa cầu, người sống thọ hơn bảy mươi tuổi cũng còn rất nhiều, và chắc chắn họ đã thấy khoa học tiến bộ không thể tưởng được; bằng chứng những điều không tưởng của ngày trước ngày nay lại quá xem thường. Và rồi đây sẽ còn tiến mãi.

Thế thì khoa học vẫn tìm mãi những điều mới lạ và không thể khẳng định thành quả nghiên cứu trong thời điểm này là chân lý bất di bất dịch.

Về ngành thiên văn học, con người của thế kỷ hôm nay đã chấp nhận rõ ràng, thế giới có vô số thiên hà trong vũ trụ, chớ không phải đầu thế kỷ thứ hai thứ ba các nhà khoa học thiên văn chỉ đếm bằng cặp mắt thịt của mình, nên kết quả khám phá ngôi sao, ngân hà (Galaxy) trong vũ trụ xem như chẳng biết gì. Tuy nhiên họ đã có công khởi xướng một kỳ tích, khám phá vĩ đại cho thế kỷ ngày nay. Nhưng lại nhìn vào vũ trụ, rồi suy nghĩ, văn minh con người ngày nay khám phá được, có lẽ cũng sẽ thành chẳng biết gì về vũ trụ, nếu tương lai khoa học cứ đà phát triển cho đến ngàn năm sau!

Vì thực tế, hiện thời khoa học thiên văn còn chưa biết rõ ngay cả dãy ngân hà Milky Way là nơi trái đất nương tựa trong đó, có hay không có hành tinh giống mình ? Và nếu có thì được bao nhiêu? Trong khi vũ trụ có hàng tỉ tỉ ngân hà! Và chắc chắn tỉ tỉ ngân hà trong vũ trụ lại có cả triệu ngân hà lớn hơn gấp trăm lần hay ngàn lần ngân hà Milky Way. Do đó cái biết của khoa học ngày nay làm sao đã nói là biết những điều của tương lai!

Thế thì quả quyết phủ định sự kiện mà mình đang còn nghiên cứu tìm kiếm, như vậy đã sai rồi.

Với vũ trụ dãy ngân hà Milky Way có lẽ như hạt cát nằm trong bãi cát lớn; với chu vi thái dương hệ (Solar system) chúng ta, hạt cát đã bị nghiền nát ra cả triệu lần rồi! Và cuối cùng là trái đất so với vũ trụ, thì không còn ai tin là có cái vật gì đó gọi là trái đất (Earth)! Nhưng, thật sự là có! Lại cuối cùng lần nữa! Ðối với kích thước con người sống trên trái đất so với vũ trụ, vậy có ai tưởng tượng thí dụ được không? Câu trả lời là hoàn toàn không! Có lẽ còn nhỏ hơn cả triệu lần "cực vi trần"(3) mà kinh Phật thường nói!

Do đó thấy rằng, nền khoa học văn minh của loài người từ cổ chí kim quả thật nhỏ bé, nhỏ bé đến hết mức diễn đạt khi so với những gì chưa biết trong vũ trụ mênh mông. Và thảo nào, hình như Albert Einstein Khoa học gia lừng lẩy của thế kỹ 20 biết được điều này, nên ông rất khiêm nhường với những gì ông biết và chưa biết.

Ðó là một vài điểm của những sự kiện mà con người không biết được, không thấy được, dù tạm có đầy đủ những thiết bị kỹ thuật cực kỳ hiện đại.

Chẳng nói xa nữa, ta nghĩ đến gần và thực tế. Nếu căn cứ vào việc thấy mới tin, vậy có ai đã thấy ông bà tổ tiên cách đây vài trăm năm không? Chắc là không rồi! Chỉ có vài trăm năm cũng không thấy, không biết! Nhưng thật sự ông bà tổ tiên đã từng sống trước đó, nếu không thì làm gì có chúng ta hôm nay!

GHI CHÚ:

(1) Ngũ uẩn: còn gọi là ngũ ấm, là năm thành phần tạo nên con người như, Sắc (thân hình, ảnh sắc bên ngoài), Thọ (cảm thọ, vui, khổ), Tưởng (tưởng ghi, tưởng tượng các hình ảnh...), Hành (sự tác động, thao tác của tâm và thân, tạo nên những hành động từ thân đến tâm) Thức (nhận thức hiểu biết). Năm phần này, Sắc thuộc về thân và bốn phần còn lại thuộc về Tâm.

(2) Thân do nhiều nhân duyên hòa hợp mà có, nhưng đây là nơi nghiệp thiện, ác sanh ra, cho nên nhận thức tương đối (tục đế) để mà học thì nó là nguyên nhân chính khổ, nhưng nếu suy lý rốt ráo đại thừa thì dù nhờ nó để đạt đạo cũng không nên cố chấp, vì còn đạt còn nhờ là chưa rốt ráo.

(3) Cực vi trần là danh từ diễn tả một vật có mức nhỏ không thể thấy và nghĩ được, mà Phật thường dạy trong kinh. Giống như Khoa học hiện đang nghiên cứu thành phần nguyên tử (Atom)- và lại khám phá ra Tiềm nguyên tử (Quark) còn nhỏ và vi tế hơn nữa!
Nam Mô A Di Đà Phật
Hình ảnh
Hình đại diện của thành viên
battinh
 
Bài viết: 3737
Ngày tham gia: Thứ 2, 14/11/11 10:58 pm
Đã cảm ơn: 51 lần
Đã được cảm ơn: 305 lần
Giới tính: Nam
Đến từ: Tứ Đại

Re: Vượt luân hồi vào Tịnh Độ

Gửi bàigửi bởi battinh » Thứ 7, 15/12/12 9:08 pm

Bàn thêm về giác quan con người, lại có vấn đề nữa!

Chúng ta đã chẳng hơn loài động vật chó, mèo, dơi, chim cú... Với chúng, ban đêm có lẽ chẳng khác ban ngày là bao, chúng có thể chạy nhảy bay lượn mà không sợ vấp phải vật chướng, và đặc biệt một số loài toàn sống về đêm. Còn loài người thì sao! Phải mò mẫm mà đi y như là mù, chớ đừng nói chạy. Nhưng lỡ ban đêm con chó nó thấy cái gì đó rồi sủa, tru, chúng ta cho là nó điên! Nguyên nhân vì ta không thấy nên không tin, vậy thật tội nghiệp cho con chó! Không chừng nó thấy cái gì vô (invisible) đó; vì đức Phật dạy có đến sáu cõi: Trời, người, A Tu La (loại thần) địa ngục, ngạ quỹ, súc sanh. Dĩ nhiên Phật dạy như thế vì Phật đã thấy rõ, còn ta vì chưa thành Phật nên chỉ thấy có hai cõi là người và súc sanh. Do vậy mắng la con chó thì tội nó lắm lắm!

Ðến ngay cả sản phẩm do con người tìm ra, rồi hóa giải nó, sai khiến nó vậy mà chính con người cũng không thấy mặt mũi nó, nói chi vũ trụ này còn biết bao nhiêu việc mà con người chưa tìm ra thì làm sao thấy!

Sản phẩm muốn nói đến, là điện năng và hơi khí.

Khi con người dùng những kỹ thuật cơ khí, điện tử, làm tác động mạch điện biến thành động cơ di chuyển vật; thì những làn sóng điện đó có ai lại thấy! Nhưng nếu ta không tin nó hiện hữu, vậy thử lấy vật ngăn che bộ phận tiếp sóng, tức sẽ thấy nó bị vướng mắc mà vô hiệu quả không làm việc được.

Hình ảnh lý thú, khi nhìn lên trời, một phản lực cơ dân dụng Boeing 747, đang lượn bay trên nền trời xanh thật đẹp, nhưng nào ai thấy vật gì làm nó di chuyển nhẹ nhàng đẹp mắt như vậy, trong khi sức nặng nó đến hàng ngàn tấn! Không phải giống như máy bay trực thăng, còn thấy có chong chóng phá lực hút trái đất nâng được lên không.

Ðơn giản, vì kỹ thuật hiện đại hơn; và máy bay không chong chóng kia vẫn đang dùng một lực đẩy kinh khủng xé nát không khí ngoài sau nó, mà mắt thường chúng ta nào thấy, duy chỉ còn nhận được âm thanh vang rền inh ỏi.

Về hơi khí là mạch sống của ta như Oxyzen, thì ai nào thấy! Như vụ tai nạn chiếc Tiềm thủy đỉnh Liên Xô xãy ra năm rồi (2002); khi tất cả máy móc hư hoại, vỡ tung, thì hầu hết số thủy thủ đoàn tử nạn, chỉ còn một ít người thoát được vào một phòng trống, nhưng lại đau thương hơn! Vì phải chứng kiến và chịu đựng thần chết đến từ từ, nguyên do dưỡng khí (oxyzen) đã kiệt dần.

Cảnh tượng ra đi đau đớn như vậy, nếu người của thời xưa chưa văn minh thấy được, sẽ phải hãi hùng vì không hiểu tại sao các thủy thủ nầy chết, trong khi thân thể không bị đâm chém đả thương!

Vậy đủ thấy rằng những gì con người không thấy rồi không tin phải cần xét lại.

Thế thì Hoa sen hóa sanh ra người cũng có thật, vì con người ở đó không phải là cái gọi con người ở đây. Thân thể họ không phải dạng vật chất nguyên tử; nay chúng ta so với thân thể chúng ta là những nguyên tố cấu tạo của đất, nước, gió, lửa, làm sao giống được!

Thế giới của những vị đó lại sống cách xa chúng ta đến hàng tỉ năm ánh sáng!

Chúng ta há không thấy ngay tại trái đất này đã có hàng ngàn loài sinh vật đâu giống loài người, nhưng sinh hoạt của chúng cũng vẫn là một tập thể chúng sanh có thế giới riêng biệt. Vì chưa có thiên nhãn thông, nên ta chưa thấy biết, chứ dưới mắt chư Phật, Bồ Tát chúng vẫn sống theo một xã hội trật tự lắm. Thử nghĩ, nếu không trật tự, làm sao ong, kiến, có thể điều hành lập tổ, chuyển tổ, dự đoán trước thiên tai, cũng như những đàn chim biết lập hình bay khi phải vượt qua những lộ trình dài như sa mạc và hồ biển!

Lại có những sinh vật sống vùi trong đất, và chắc chắn phải có một số loại cá dị thường sống sâu tận đáy biển!(4) Và việc chúng khổ hay vui chỉ có chúng mới biết! Nhưng chắc chắn là khổ rồi, căn cứ theo Phật dạy - ở cõi Ta Bà này tất cả chúng sanh chẳng tránh được khổ.

Vậy thế giới có muôn hình vạn trạng, chúng sanh ở vào cảnh nào mới hiểu được cảnh ấy; chỉ trừ những điều cơ bản có thể quan sát, phỏng đoán, ngoài ra đến chín mươi phần trăm không thể biết được. Như ta có thể cho lạ lùng, khi nghe trong kinh nói chư Thiên cõi trời không ăn uống tiêu hóa như mình; họ chỉ ăn bằng cách ngửi hương vị - ngược lại chư Thiên nhìn loài người cũng rất ngạc nhiên và không chừng còn gớm ghiếc nữa, khi thấy hành động ăn uống của con người, bằng cách bỏ cái gì đó vào thân trên, rồi lại tít tắc chẳng bao lâu thải ra ở dưới một cách bất tịnh!

Ðại thể thế giới Ta Bà nầy, có hàng ngàn loại chúng sanh, nên có hàng ngàn sự sống khác nhau, nhưng loài người lại là loài thông minh, tuyệt đẹp và được ưu đãi nhất.

Cũng vậy vũ trụ có vô vàn thế giới; mỗi thế giới lại có sinh hoạt khác nhau và cõi Cực Lạc là cõi thật đẹp và thanh tịnh nhất như các cõi Phật khác vậy.

Suy ra chúng ta ngạc nhiên cũng đúng, vì cả đến những cõi trời cũng phải ngạc nhiên khi nghe nói đến cõi Cực Lạc, nhưng xin nói nhỏ chỉ chúng ta nghe thôi; họ (cõi trời) không được may mắn như ta đâu! Vì chưa nghe nói Phật Thích Ca thuyết pháp môn Niệm Phật ở cõi trời nào! Và nếu có đi nữa thì rất hiếm rất hiếm!

Ðến đây phần nào đã hiểu, và có thể an tâm rằng, việc lạ lùng ở cõi Cực Lạc cũng bình thường thôi! Tuy nhiên, ta thử diễn đoán thêm một vài điểm.

Khi các vị đã từ Hoa sen tinh khiết sanh ra, tất nhiên thân thể quý vị đó phải là trong suốt thanh tịnh. Thân thanh tịnh thì ý thanh tịnh, ý thanh tịnh đã là định rồi, vậy đã đi vào diệu dụng của an lạc tự tại; thế là chỉ còn chờ nhân duyên dự vào hải hội thấy và nghe Phật A Di Ðà khai mở Phật tuệ thì hoàn tất việc tu.

Nhận định trên hiểu rằng, họ thanh tịnh được ý một cách dễ dàng khi hoa khai, bởi vì họ đã thanh tịnh trước khi bỏ thân phàm ở cõi kham nhẫn (Ta Bà); thành ra một khi hành giả được vãng sanh tâm ý đã thanh tịnh ngay tức khắc.

Thế thì niềm an lạc từ tâm, diệu dụng ra tất cả, vậy sá gì muốn ăn có ăn, muốn ở cung điện có cung điện... Những việc nầy nói ra chỉ để phương tiện khuyến tấn hành giả cầu sanh mà thôi, chứ niềm an lạc định tâm mới là cứu cánh.

Khi đã dự vào ao sen thất bảo, chánh báo tất nhiên phù hợp với y báo. Nghĩa là hành giả sẽ không còn là hành giả của sáu căn, sáu thức ở Ta Bà; mà giờ đây là hình sắc của chơn tâm, tuệ trí sống nơi thế giới Cực Lạc. Cho nên y báo lại đẹp ra phù hợp với chánh báo của hành giả; đó là cấp độ phẩm trật mà do công phu của hành giả được dự vào, như Thượng Phẩm, Trung Phẩm và Hạ Phẩm.

Cũng xin phân định rõ, hành giả niệm Phật bỏ xác thân sanh về thế giới Cực Lạc qua phương tiện hoa sen; tuy vậy ở vào trình độ công phu sâu nhiệm, viên mãn công đức, hành giả sẽ tiếp nhận cảnh giới Cực Lạc ngay khi hành giả xả thân Ta Bà, đó là cấp bực của Thượng phẩm thượng sanh(5). Và tùy vào các phẩm Trung, Thượng, Hạ khác mà sớm muộn diện kiến ngay đức Phật A Di Ðà, để nhập vào thanh tịnh cảnh (Cực Lạc thế giới). Tuy nhiên thời gian ở Hoa sen cảnh, chờ khai hoa kiến Phật, vẫn an trụ trong diệu tâm lạc hạnh, sung sướng mà kinh nói còn nhẹ nhàng tươi nhuận hơn cả trăm lần cảnh trời.

Suy ra, sanh vào Cực Lạc cảnh thấp cao đều do công phu của hành giả, và không thể một người chỉ niệm Phật bình thường đến giờ phút lâm chung có thể sanh được Trung Phẩm hay Thượng Phẩm. Vì tâm thức của họ chưa đủ thuần chân, chứa đầy chủng tử Phật (thức giác). Họ vẫn nhứt định vãng sanh nhưng phải ở Hạ Phẩm. Tuy nhiên dù ở hạ phẩm vẫn còn hơn tất cả trong ba cõi (Dục giới, Sắc giới, Vô Sắc giới) bởi vì Hạ phẩm ở ngay trong thế giới thanh tịnh của Phật A Di Ðà thì việc kiến Phật chắc chắn không xa.

Kết lại vấn đề thắc mắc nghi ngờ của tất cả phần còn lại: Tại sao mọi người đều không có phiền não (khổ); ai cũng có thần thông v.v... sẽ không còn khó hiểu nữa, vì tâm đã hoàn toàn thanh tịnh chẳng còn mọi vướng mắc các pháp hữu vi, sanh diệt đối đãi. Vậy đó là thần thông, là tự tại chu du khắp pháp giới.

GHI CHÚ:

(4) Cho đến bây giờ, văn minh con người vẫn chưa khám phá nổi những vùng biển sâu nhất của đại dương.

(5) Thời gian từ lúc vãng sinh diện kiến được Phật A Di Ðà và chư Thánh chúng của bực Thượng phẩm thượng sanh nhanh như khảy móng tay, nên nói sẽ tiếp nhận cảnh giới Cực Lạc ngay khi xả thân Ta Bà. (Xin xem phần: Quán sanh về thượng phẩm, trong kinh Vô Lưọng Thọ do cố Hòa thượng Thiền Tâm dịch).
Nam Mô A Di Đà Phật
Hình ảnh
Hình đại diện của thành viên
battinh
 
Bài viết: 3737
Ngày tham gia: Thứ 2, 14/11/11 10:58 pm
Đã cảm ơn: 51 lần
Đã được cảm ơn: 305 lần
Giới tính: Nam
Đến từ: Tứ Đại

Re: Vượt luân hồi vào Tịnh Độ

Gửi bàigửi bởi battinh » Chủ nhật, 16/12/12 5:55 am

CHƯƠNG IV
NIỆM PHẬT VƯỢT LÊN NHÂN QUẢ NGƯỜI, TRỜI, THANH VĂN, DUYÊN GIÁC

Kẻ say ngủ giờ đây thấy mình không còn say ngủ nữa; tự có thể cho mình tỉnh thức cuộc đời, tỉnh thức giấc mộng dài từ vô thỉ kiếp đến nay. Và ngay giờ phút này thầm gọi mình là người tỉnh thức.

Bây giờ người tỉnh thức chuẩn bị định vị, vị trí của mình để bắt đầu xem lộ trình niệm Phật phải tuần tự thế nào:

Không phải tự nhiên, một người lại có cảm tình và thú vị với một điều chi; thường thì phải có liên hệ từ những kiếp xa xôi trong quá khứ.

Chúng ta chẳng thấy rằng có nhiều việc thật khó khăn, khó chịu với mình, nhưng với người khác họ xem tỉnh bơ, không chừng lại say đắm nữa! Ngược lại cũng thế, việc mình ưa chuộng, người khác chán ghê!

Quan sát đời sống trong xã hội, thấy rõ điều này. Chẳng hạn một số nghề nghiệp như sau: Người thích làm việc ở nơi đông chúng, thích lấy nơi ồn ào làm vui, thích nghe nhiều âm thanh tạp nhạp giữa người này với người kia... Số người ấy là người bán hàng nơi phố, người nghệ sĩ hát rong, người làm việc quảng cáo v.v... Ngược lại những người trên, một số lại thích nơi yên tịnh, chỉ muốn tiếp xúc ít người và có thể làm việc một chỗ như là văn phòng riêng, kéo dài tháng này qua năm nọ. Hình như họ cố tránh hoàn cảnh náo động ồn ào ảnh hưởng đến tinh thần, nên thú vị với tình huống yên bình, đối lại với số người trước luôn luôn hoạt náo, cảm thấy không khí yên lặng nặng nề thê thảm, chắc chắn ảnh hưởng tâm tư của họ; thành ra chỗ càng đông người, tinh thần họ lại phấn chấn tươi sáng ra.

Rồi có những nghề hầu như người trong xã hội ít muốn, ít quan tâm, nguyên nhân có thể là nguy hiểm, khiến đời sống cá nhân bị đe dọa, đó là nghề an ninh, cảnh sát, quan tòa trạng sư. Tuy vậy công việc này lại quan trọng không những cho xã hội mà cả quốc gia toàn nước. Nếu không có nghề này, sẽ ảnh hưởng không hay đến tất cả nghề nghiệp khác, hay khẳng định mà nói nếu không có nghề này thì không còn nghề nào khác tồn tại được. Và nghề giữ an ninh vẫn có nhiều người tự động đeo đuổi, hưởng ứng tha thiết với công vụ của mình.

Ðến những nghề mà xã hội phải mang ơn như là binh nghiệp, ngày đêm bảo vệ quốc gia đất nước; có thể sẵn sàng hy sinh tánh mệnh, mong đem đến đời sống thanh bình cho người khác; đây vẫn có nhiều người vui sướng tự hào vì lý tưởng đã chọn.

Tóm lại, hành động nào cũng là nguyên nhân hay kết quả nối dài từ những kiếp sống trước đến hiện tại và tương lai. Người nào trong quá khứ chưa quen biết hay hành động vấn đề nào đó, hiện tại họ sẽ vất vả để theo, hay không thể theo được đành bỏ dở dang. Nhưng việc dở dang đây lại làm nhân cho đời sau tiến lên nhiều bước, rồi quen dần và từ từ đến lão luyện.

Pháp tu học giải thoát cũng y như vậy. Có người mới bước vào đạo, liền thật say mê; họ trầm mình nghiền ngẫm hết sách kinh này đến hàng kinh khác; rồi thực hành thử qua mọi thứ, cũng như gia công tinh tấn ngày đêm! Nhưng cuối cùng mệt nhoài, chẳng đạt được như tâm muốn, bởi "dục tốc bất đạt", muốn nhanh không thể được. Khi về già công trình tham cứu đó trở thành kiến thức phổ thông Phật pháp; tuy cũng có ích, nhưng để mà vui, hoặc khá hơn gieo duyên cho đời vị lai học tiếp!

Nhưng nếu không may, không dứt khoát chọn cho mình một pháp tu giải quyết ngay thời điểm đang nằm trên giường bệnh, quả là uổng tiếc và cũng hơi nguy hiểm!

Nếu vị học giả như trên gặp được thiện trí thức vào giờ chót cuộc đời thì may mắn lắm; sẽ đúc kết những pháp học đã biết thành một bài học VÔ NGÃ, mới có thể tiến dần đến pháp giải thoát rồi tự tại ra đi. Nhưng thật là chướng, thường thì học nhiều lại ít chịu phục tùng nghe ai, dù là nghe từ một Thiện trí thức; nhưng lại cũng không dễ, vì Thiện trí thức không thể có nhiều, thành ra thật là tội nghiệp vị học giả kia!

Có lẽ đúng hơn do không xử lý được kiến thức quá cao, nên sinh ra ngã mạn cố chấp mà nhà Phật gọi là sở tri chướng, đây là cái nạn lớn trong tiến trình hành đạo giải thoát, cho nên nhân nào thì quả nấy vậy.

Chắc chắn người học Phật nào cũng hiểu; dù tu pháp môn chi mà còn quá chấp NGÃ sẽ vô hiệu quả; chẳng có thể thành được cái gì. Bởi vì ngã, còn quá chấp làm sao buông được pháp ra! Hễ chấp ngã tức chấp pháp, vì do thấy mình có học và pháp được học!

Muốn tự tại không kẹt vào pháp chấp, phải xả cái tôi (ngã) học pháp đó.

Không chấp nhiều về ngã, tự nhiên sẽ thấy pháp học của mình trở nên nhẹ nhàng, vì chính con người học pháp, còn vô ngã thế làm sao pháp có ngã (bản thể).

Pháp học trở nên nhẹ nhàng, tức xem chúng chỉ là phương tiện giúp hành giả trên đường đi đến cứu cánh.

Vị học giả trên, ham thích đạo giải thoát như thế không phải là điều dễ làm, vì chẳng có mấy người trong thời mạt pháp nầy ham thích như vậy. Và tất nhiên đó là nhân trong quá khứ cũng đã mê say Phật pháp.

Trường hợp cũng có một số người, vừa đặt chân vào đạo giải thoát, gặp được một pháp môn rồi tinh tấn, thuận duyên với pháp ấy đến trọn đời; khi ra đi kết quả được nhẹ nhàng an lạc với tâm trạng hoan hỷ hài lòng. Việc này cho thấy, đời trước hành giả đó đã chuyên trì một pháp tu nhưng chưa thành tựu, nay đời này chủng tử còn lưu giữ và hiện hành trở lại, tiếp tục con đường đã chọn.

Thế thì chẳng ngạc nhiên, người thích tu Thiền, kẻ thích tu Tịnh, người mê Mật tông, và kẻ chỉ ham say nghiên cứu v.v...

Tuy nhiên, có trường hợp hành giả lại đổi hướng chuyển tu ngay đời này, khi căn cơ tâm lực không thể đeo đuổi nổi pháp tu đời trước, hoặc giả tìm ra thuận duyên với pháp tu mới đời nay.

Chúng ta hôm nay sanh ra biết được Phật pháp, cuối cùng chọn pháp tu niệm Phật, chắc chắn rằng trong đời quá khứ đã mến mộ hay đã thực hành Pháp tu nầy rồi.

Nhưng tại sao bây giờ ta vẫn là người của thế giới Ta Bà mà không là người (bậc thượng nhân) của thế giới Cực Lạc?

    Vấn đề niệm Phật rơi vào quả Nhân, Thiên.
Niệm Phật sanh trở lại cõi người hay cõi trời có lẽ rất nhiều, nhưng có lẽ cõi người thì nhiều hơn. Cũng dễ đoán, nếu sanh cõi trời tất nhiên sẽ không còn nhớ câu niệm Phật, do cảnh giới quá sung sướng. Và khi hết phước báo cõi trời sẽ trở lại làm người, vì đã có công đức niệm danh hiệu Phật và diệu dụng đó không đến nổi phải rớt thẳng vào cảnh khổ địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh.

Nếu sanh cõi trời, do từ những phước báo công đức bình thường, như làm lành tu phước (không có niệm Phật) thì khó được duyên lành quay lại cảnh giới người, ý thức được khổ mà hướng về tu, khi thời gian thiên cảnh đã hưởng hết phước báo công đức.

Niệm Phật gây chủng tử Phật huân tập vào tâm thức, nếu chỉ được quả báo ở cõi trời nhưng nhờ diệu dụng của danh hiệu Phật có thể năng biến sanh khởi mãi với hành giả, nên tương lai sẽ được thành tựu vãng sanh, duy chỉ có vấn đề là thời gian sớm muộn.

Chẳng hạn một người thật ác, nhưng trong đời họ có nhân duyên một lần niệm ít câu Phật, dù họ có chịu quả báo làm thú; đến khi hết kiếp thú thành người, họ sẽ có duyên hưởng được diệu dụng từ công đức niệm Phật của thuở kiếp xưa.

Không ai niệm Phật lại muốn cầu sanh cõi người hay cõi trời, dù sanh lại cõi người làm vị chân tu thanh tịnh thuận duyên đầy đủ hoằng hóa lợi sanh. Ðiều này thoáng nghe qua đúng, hợp tinh thần Bồ Tát đạo, nhưng sự thật khó thể thực hiện. Bởi thế gian hiện thời đang vào sâu thời mạt pháp, con người càng lúc càng đối diện với những cảnh tượng giao động do nhân họa thiên tai. Xã hội văn minh đã giúp cải thiện đời sống con người đến mức tuyệt vời, tuy vậy luật bù trừ ngược lại điều tuyệt vời đó, con người lại phải sợ cái mà sản phẩm con người tạo ra - vì khoa học có thể tạo đủ thứ máy móc tinh vi, thì vũ khí chiến tranh giết người cũng tăng theo cấp độ khó tưởng được. Nếu chiến tranh thứ ba diễn ra bằng tất cả vũ khí nguyên tử, hạch tâm, vi trùng, hơi độc đồng công phá một lúc thì hành tinh xanh của con người trở thành một hành tinh chết.

Ngay khi đấng giác ngộ nhập Niết Bàn, vài trăm năm sau các đệ tử Thánh Tăng của ngài đã cố công hoằng hóa, duy trì đạo giải thoát. Một số đoán biết trước, rằng ngay nơi sinh bậc giác ngộ sẽ bị biến cố lung lay đến chánh pháp, nên đã tìm cách đem đạo vàng vượt biên giới đến những chân trời xa hơn. Và lịch sử đạo vàng đã được duyên lành khởi xướng đến thời tượng pháp (hơn 1000 năm sau) - qua các quốc gia như Trung Hoa, Tây Tạng, Nhật Bổn, Việt Nam, Tích Lan, Thái Lan... do vậy thời này vẫn còn xuất hiện nhiều Thánh Tăng.

Ðến ngày nay, hơn 2600 năm thực tế cho thấy, phương tiện tìm hiểu Pháp học thật hoàn mỹ so với ngàn năm trước, nhưng Pháp hành chẳng thấy đáng được ghi tâm, nếu không nói gần như biến thành ngành triết học giải thoát, tức chỉ lý thuyết suông khó thể thực hành. Suy diễn như vậy là vì thiếu bóng Thánh Tăng.

Cho nên nguyện trở lại làm Thánh Tăng, chắc có lẽ đã nhiều người nguyện, nhưng rồi chẳng thấy có được bao nhiêu vị chân tu đắc đạo để người nương tựa; hay là các vị cảm thấy bất lực với thời đại bây giờ, nên đã âm thầm chuyển hướng phát nguyện lại: Phải từ cõi Phật quay về mới đủ oai lực độ sanh!

Trong Từ Bi Thủy Sám, chúng ta đã nghe qua những lời thống thiết của một bậc cao Tăng; nhân duyên tạo kinh sám cũng là do quả báo của ngài (Ngộ Ðạt Quốc sư). Theo phần duyên khởi trước khi vào Sám, người đọc sẽ biết, Ðại sư không phải là vị Tăng thường, vì đức hạnh ngài đầy đủ đến nổi vua thời bấy giờ tôn vinh làm Thầy, để thỉnh vào cung mà dạy đạo. Ngay khi gặp nạn lại được Bồ Tát hiện thân giúp đỡ.

Ta lại biết một người mà được chư vị Long Thần Hộ Pháp thường hộ trì, đã là chân phước, huống gì ngài được kết bạn với Ðại Bồ Tát. Ðây không phải ngẫu nhiên do lòng từ của Ngài giúp đỡ người bệnh cùi, rồi trúng ngay Bồ Tát, rồi được trả ơn. Ðiều này dưới mắt phàm nhân thấy như thế, nhưng với Ngộ Ðạt Ðại sư thì không.

Có lẽ ngài đã thấy được chân tướng bên ngoài của một người, mà người thường không thấy! Và dù không phải vậy, thì như đã nói, việc tu niệm của nNgài đã được chư Bồ Tát gia trì, điều này chắc chắn đúng hơn. Vì công đức quá đầy, đã có đến mười kiếp làm cao Tăng, đó là lời của kẻ thù hiện lên báo oán mách cho ngài biết vậy.

Thế thì ta thấy, vị trí của ngài Ngộ Ðạt, đã là Thánh Tăng, vì vua còn thỉnh mời thuyết dạy huống gì quần chúng ai lại không tôn sùng ái mộ. Nhưng cuối cùng ngài đã chẳng độ được bao người lại phải vất vả vì quả báo của chính mình. Do đây vị trí Thánh Tăng đời nay lại có thể hơn được Ngài chăng!

Tuy nhiên, đứng về lý tánh giải thoát và nhân duyên giải thoát, mọi tác động nghịch thuận đều đưa con người về Phật tánh, nếu hành giả thanh tịnh được ba môn Giới Ðịnh Tuệ - vậy cũng có thể nói hiện hữu đời nay vẫn có Thánh Tăng hoạt động dưới nhiều hình thức. Các Ngài cũng có thể là người từ cõi Tây phương, Ðông phương, Bắc phương... quay lại không chừng, nhưng tùy theo đạo hạnh của các ngài mà hành đạo có sâu cạn v.v... Cũng như chính ngay chuyện Ngộ Ðạt Quốc sư, đâu lại biết chừng đó là phương tiện cảnh tỉnh mọi người, để ra đời Kinh Thủy Sám!

Do đó an tâm hơn hết, ta hãy nhập vào thế giới thanh tịnh để được thanh tịnh, trước khi vào cõi uế trược độ sanh.

Ðọc kinh Phật, ta biết được chư vị Thanh Văn, Duyên Giác là những bậc thanh tịnh thường hay đi gần Phật để học giải thoát; đến khi được quả vô sanh (A La Hán), chư vị vẫn còn muốn sống gần Phật. Xem thế đủ thấy Phật lực là sức mạnh mà ai cũng cần nương theo.

Các ngài Thanh Văn, Duyên Giác đã là A La Hán mà còn muốn gần bóng mát của ngài, thì ngày nay, bóng Phật không còn ta phải nương vào ai?

Chúng ta chỉ còn có Thầy bổn sư (Thầy thế phát xuất gia cho mình) và chư vị Tôn đức; nhưng chư vị Bổn sư và quý Tôn đức hiện nay lại chắc gì là Thánh Tăng, vì trên đã nói Thánh Tăng đâu dễ tìm được đời này; lại nữa các ngài đó cũng còn phải tìm bóng Phật mà nương! Thế thì người say ngủ như chúng ta mới được may mắn tỉnh thức phải tìm vào đâu và nương vào ai?

Nói như thế để thấy, niệm Phật duy chỉ có mục đích về được nước Phật, mà không phải nương tựa mong mỏi một quả vị nào như là Thanh Văn, Duyên Giác, Bồ Tát.

Kinh pháp và ảnh tượng của Phật duy nhất là nơi cho ta nương tựa, khi bóng dáng Thế Tôn không còn nữa. Nhưng hình dáng Tăng đoàn là thực sống, thể hiện được hành pháp, nên ta lại phải nương theo. Và lý nghĩa Phật là thanh tịnh, là tỉnh thức giác ngộ các pháp sanh diệt vô thường, vậy ta không thể nào tìm được Phật nếu ta còn chấp ngã chấp pháp. Do thế Thánh Tăng hay Phàm Tăng vẫn là nơi ta thấy được pháp yếu giải thoát.

Thế thì quả vị vượt hơn cõi người và trời, là quả vị của bậc Thanh Văn, Duyên Giác cho đến quả Bồ Tát thập địa ta vẫn không mong cầu. Ta chỉ duy cầu quả Phật, đúng theo thâm ý của Phật trong kinh Pháp Hoa "Các đức Phật Thế Tôn vì muốn cho chúng sinh khai tri kiến Phật để được thanh tịnh mà hiện ra nơi đời; vì muốn chỉ tri kiến Phật cho chúng sinh mà hiện nơi đời: vì muốn cho chúng sinh tỏ ngộ tri kiến Phật mà hiện ra nơi đời; vì muốn cho chúng sinh chứng vào đạo tri kiến Phật mà hiện ra nơi đời" (Phẩm Phương tiện).
Nam Mô A Di Đà Phật
Hình ảnh
Hình đại diện của thành viên
battinh
 
Bài viết: 3737
Ngày tham gia: Thứ 2, 14/11/11 10:58 pm
Đã cảm ơn: 51 lần
Đã được cảm ơn: 305 lần
Giới tính: Nam
Đến từ: Tứ Đại

Trang kế tiếp

Quay về Tịnh độ tông